Từ 9/2: Phạt tới 400 triệu đồng, tịch thu toàn bộ vàng nếu phát hiện sai phạm sau
Nghị định số 340/2025/NĐ-CP Quy định về xử phạt vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng.
Theo báo Người đưa tin có bài Từ 9/2: Phạt tới 400 triệu đồng, tịch thu toàn bộ vàng nếu phát hiện sai phạm sau. Nội dung như sau:

Ngày 25/12/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 340/2025/NĐ-CP Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng. Nghị định sẽ có hiệu lực ngày 9/2 tới.
Tại điều 28 của Nghị định 340 quy định chi tiết về các vi phạm về hoạt động kinh doanh vàng, các hình thức xử phạt tương ứng. Cụ thể:
Điều 28. Vi phạm quy định về hoạt động kinh doanh vàng
1. Phạt cảnh cáo đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Mua, bán vàng miếng với tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp không có Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng;
b) Sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán.
2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Mua, bán vàng miếng với tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp không có Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng trong trường hợp tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần;
b) Sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán trong trường hợp tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần;
c) Không thực hiện thanh toán mua, bán vàng qua tài khoản thanh toán theo quy định của pháp luật.
3. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Không niêm yết công khai giá mua, giá bán vàng miếng, vàng trang sức, mỹ nghệ theo quy định của pháp luật;
b) Vi phạm trách nhiệm của tổ chức tín dụng, doanh nghiệp hoạt động kinh doanh mua, bán vàng miếng khi có thay đổi về mạng lưới chi nhánh, địa điểm kinh doanh mua, bán vàng miếng theo quy định của pháp luật;
c) Sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ mà không công bố tiêu chuần áp dụng, không ghi nhãn hàng hóa theo quy định của pháp luật;
d) Sản xuất vàng miếng mà không công bố tiêu chuẩn áp dụng, khối lượng, hàm lượng của sản phẩm, không ghi nhãn hàng hóa theo quy định của pháp luật.
4. Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Kinh doanh mua, bán vàng miếng không đúng quy định của pháp luật, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 8 Điều này;
b) Mang theo vàng khi xuất cảnh, nhập cảnh không đúng quy định của pháp luật, trừ các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan.
5. Phạt tiền từ 140.000.000 đồng đến 180.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Thực hiện kinh doanh mua, bán vàng miếng thông qua các đại lý ủy nhiệm;
b) Không thực hiện đúng quy định của pháp luật về trạng thái vàng;
c) Xuất khẩu, nhập khẩu vàng trang sức, mỹ nghệ; vàng nguyên liệu dưới dạng bột, dung dịch, vẩy hàn, muối vàng và các loại vàng trang sức dưới dạng bán thành phẩm mà không đúng theo nội dung ngành nghề đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật;
d) Thực hiện sản xuất, kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ mà không đáp ứng đủ điều kiện được phép sản xuất, kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ theo quy định của pháp luật;
đ) Thực hiện gia công vàng trang sức, mỹ nghệ mà không có đăng ký gia công vàng trang sức, mỹ nghệ trong Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.

6. Phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Sử dụng vàng nguyên liệu nhập khẩu không đúng theo giấy phép nhập khẩu vàng nguyên liệu;
b) Thực hiện kinh doanh mua, bán vàng miếng thông qua các đại lý ủy nhiệm trong trường hợp tái phạm.
7. Phạt tiền từ 250.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng đối với hành vi hoạt động sản xuất vàng miếng không đúng quy định của pháp luật.
8. Phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng đối với một trong các hành vì vi phạm sau đây:
a) Sản xuất, kinh doanh mua, bán vàng miếng nhưng không có giấy phép sản xuất, kinh doanh mua, bán vàng miếng;
b) Thực hiện xuất khẩu hoặc nhập khẩu vàng nguyên liệu, vàng miếng không có giấy phép do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy định của pháp luật;
c) Hoạt động kinh doanh vàng khác khi chưa được cấp có thẩm quyền cấp giấy phép theo quy định của pháp luật.
Nghị định số 340/2025/NĐ-CP cũng quy định các hình thức xử phạt bổ sung như:
a) Tịch thu số vàng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 8 Điều này;
b) Đình chỉ hoạt động kinh doanh mua, bán vàng miếng trong thời hạn từ 06 tháng đến 09 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 5 Điều này;
c) Đình chỉ hoạt động nhập khẩu vàng nguyên liệu trong thời hạn từ 09 tháng đến 12 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 6 Điều này.
Ngoài ra, Nghị định cũng quy định biện pháp khắc phục hậu quả: Đề nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy phép kinh doanh mua, bản vàng miếng đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 6 Điều này.
Theo Đời sống Pháp luật đưa tin "Mang vàng cưới không giấy tờ đi bán có bị tịch thu không? Nhiều người mang vàng đi bán mới biết điều này" nội dung chính như sau:
Trong đời sống của nhiều gia đình Việt, vàng cưới thường là nhẫn trơn, dây chuyền, lắc tay được mua từ nhiều năm trước, được tặng trong ngày cưới hoặc truyền lại từ người thân. Phần lớn những món vàng này không còn hóa đơn, thậm chí chưa từng có giấy tờ mua bán ngay từ đầu.
Chính vì vậy, khi cần bán vàng, không ít người rơi vào tâm lý lo lắng: liệu việc không có hóa đơn có khiến giao dịch trở nên “rủi ro”? Sự hoang mang càng gia tăng khi trên mạng xã hội xuất hiện các thông tin cảnh báo rằng “sau 9/2, vàng không giấy tờ có thể bị thu giữ”.

Ảnh minh họa
Thực tế, đây là nỗi lo rất đời thường, nhưng lại xuất phát từ việc hiểu chưa đúng bản chất các quy định quản lý thị trường vàng.
Bán vàng cưới không có giấy tờ có vi phạm pháp luật?
Trên thực tế, theo giới chuyên gia, nỗi lo của nhiều người bán vàng cưới thời gian qua chủ yếu xuất phát từ việc hiểu chưa đúng tinh thần các quy định pháp luật. Trao đổi với Báo Lao Động, Luật sư Mai Thảo, Phó Giám đốc TAT Law Firm, cho rằng không ít thông tin lan truyền trên mạng xã hội đang bị “đơn giản hóa” và “thổi phồng rủi ro”, đặc biệt là cách diễn đạt rằng “ai cũng có thể bị thu vàng”.
Theo vị luật sư, cách hiểu này không đúng với nội dung pháp lý của Nghị định 340/2025/NĐ-CP. Cụ thể, nghị định này không điều chỉnh quyền sở hữu vàng hợp pháp của người dân, mà chỉ tập trung xử lý hành vi kinh doanh, mua bán vàng miếng trái phép. Việc tịch thu vàng, nếu có, chỉ đặt ra trong trường hợp vàng miếng là tang vật của hành vi vi phạm, như mua bán không đúng đối tượng hoặc không đáp ứng điều kiện theo quy định.
Nói cách khác, việc cá nhân mang vàng cưới đi bán mà không có giấy tờ không bị coi là hành vi vi phạm pháp luật. Người bán sẽ không bị xử phạt hành chính hay tịch thu tài sản chỉ vì không xuất trình được hóa đơn mua vàng.

Ảnh minh họa
Điều người bán vàng cưới cần lo không nằm ở luật, mà ở giá bán
Dù không gặp rủi ro pháp lý, người bán vàng cưới vẫn có thể chịu thiệt thòi về kinh tế nếu không nắm rõ cách các cửa hàng vàng định giá.
Trong thực tế, khi thu mua vàng cưới, tiệm vàng sẽ không căn cứ vào việc có hay không có hóa đơn, mà tập trung vào các yếu tố như tuổi vàng (24K, 18K, 14K), trọng lượng thực tế và mức hao hụt sau quá trình sử dụng. Những món vàng đã đeo lâu năm thường bị mòn, trầy xước hoặc pha hợp kim nhiều, dẫn tới giá mua vào thấp hơn so với vàng trơn hoặc vàng mới.
Ngoài ra, mỗi cửa hàng có thể áp dụng mức trừ hao khác nhau, khiến giá thu mua chênh lệch đáng kể. Trong bối cảnh nhiều người bán vàng vì lo ngại tin đồn pháp lý, không ít trường hợp chấp nhận bán nhanh với giá thấp hơn thị trường.

Ảnh minh họa

Theo khuyến cáo từ lực lượng quản lý thị trường, người dân nên lựa chọn các cửa hàng vàng uy tín, có giấy phép kinh doanh, hỏi rõ giá mua vào và cách tính hao hụt trước khi giao dịch. Đây là cách bảo vệ quyền lợi thiết thực hơn so với việc lo lắng về hóa đơn hay giấy tờ.
Từ góc độ pháp lý, có thể khẳng định: vàng cưới là tài sản cá nhân hợp pháp, và người dân có quyền mua bán theo nhu cầu mà không phải chứng minh nguồn gốc bằng hóa đơn. Điều quan trọng là hiểu đúng quy định, bình tĩnh trước các thông tin lan truyền và chủ động bảo vệ quyền lợi của mình khi giao dịch.
Trong bối cảnh hiện nay, thay vì lo sợ bị xử phạt, người bán vàng cưới cần quan tâm nhiều hơn tới việc bán đúng giá, đúng nơi, để tránh những thiệt thòi không đáng có cho chính mình.

