Từ mai (10/9), người lao động có thể bị phạt tiền lên đến 100 triệu đồng nếu vi phạm điều sau
Nghị định 283/2026/NĐ-CP đã quy định chi tiết các mức phạt vi phạm của người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài và tổ chức, cá nhân liên quan khác. Nghị định 283/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực từ 10/9.
Lao động Việt tự ý ở lại nước ngoài trái pháp luật có thể bị phạt đến 100 triệu đồng
Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng nếu tự ý ở lại nước ngoài trái pháp luật sau khi hợp đồng lao động hoặc hợp đồng đào tạo nghề chấm dứt có thể bị phạt tiền từ 80 triệu đồng đến 100 triệu đồng. Quy định này áp dụng khi hành vi không xuất phát từ việc người lao động bị đe dọa, ép buộc và chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Bên cạnh đó, các hành vi tuyển chọn lao động đi nước ngoài không có chức năng, lôi kéo hoặc lừa gạt người lao động ở lại nước ngoài trái phép cũng có thể bị xử phạt với mức tiền đáng kể.
Người lao động tự ý ở lại nước ngoài có thể bị phạt 100 triệu đồng
Theo quy định được nêu tại Nghị định 283/2026/NĐ-CP, người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trực tiếp giao kết với người sử dụng lao động có thể bị phạt từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng nếu chưa có văn bản xác nhận việc đăng ký hợp đồng lao động của UBND cấp xã nơi người lao động thường trú.
Mức phạt cao hơn được áp dụng đối với hành vi tự ý ở lại nước ngoài trái pháp luật sau khi hợp đồng đã chấm dứt.
Cụ thể, người lao động có hành vi tự ý ở lại nước ngoài trái pháp luật sau khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng đào tạo nghề sẽ bị phạt tiền từ 80 triệu đồng đến 100 triệu đồng nếu đồng thời đáp ứng các điều kiện: không phải do bị đe dọa, ép buộc dưới bất kỳ hình thức nào và không thuộc trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Quy định này nhằm phân biệt giữa trường hợp người lao động chủ động vi phạm với những trường hợp người lao động bị tác động, cưỡng ép hoặc rơi vào tình huống có dấu hiệu tội phạm cần được xử lý theo quy định hình sự.
Nhiều hành vi liên quan đến đưa lao động đi nước ngoài bị phạt nặng
Không chỉ người lao động, tổ chức và cá nhân thực hiện một số hành vi trái quy định trong lĩnh vực đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài cũng có thể bị phạt từ 80 triệu đồng đến 100 triệu đồng.
Các hành vi thuộc nhóm này gồm:
-
Thực hiện thông tin, quảng cáo hoặc tư vấn cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài khi không có chức năng thực hiện những hoạt động này.
-
Tổ chức tuyển chọn hoặc thu tiền của người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài khi không có chức năng.
-
Cưỡng ép, lôi kéo, dụ dỗ hoặc lừa gạt người lao động Việt Nam ở lại nước ngoài trái phép nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
-
Giả mạo Giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Như vậy, các hành vi can thiệp trái quy định vào quá trình tuyển chọn, đưa người lao động ra nước ngoài hoặc tác động khiến người lao động tiếp tục ở lại nước ngoài trái phép đều có thể bị xử lý hành chính với mức phạt cao.
Đáng chú ý, trường hợp vi phạm đã đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm thì không dừng lại ở việc xử phạt hành chính mà có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật.
Chi nhánh doanh nghiệp dịch vụ có thể bị phạt đến 200 triệu đồng
Nghị định cũng quy định mức xử phạt đối với chi nhánh của doanh nghiệp dịch vụ khi thực hiện hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài không đúng phạm vi được giao.
Theo đó, chi nhánh doanh nghiệp dịch vụ có hành vi thực hiện hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài không thuộc phạm vi nhiệm vụ được doanh nghiệp dịch vụ giao hoặc không trong thời gian được doanh nghiệp dịch vụ giao có thể bị phạt tiền từ 180 triệu đồng đến 200 triệu đồng.
Quy định này đặt ra yêu cầu đối với chi nhánh và doanh nghiệp dịch vụ phải tuân thủ đúng phạm vi nhiệm vụ, thẩm quyền và thời gian được giao trong quá trình hoạt động.
Có thể phải trả lại tiền đã thu trái pháp luật
Ngoài hình thức phạt tiền, một số trường hợp vi phạm còn phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.
Cụ thể, đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 53 Nghị định 283/2026/NĐ-CP, tổ chức, cá nhân vi phạm có thể bị buộc trả lại cho người lao động số tiền đã thu trái pháp luật, đồng thời phải trả cả khoản tiền lãi phát sinh từ số tiền này.
Khoản lãi được tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt.
Quy định này nhằm khắc phục trực tiếp hậu quả về tài chính đối với người lao động, bên cạnh việc xử lý hành chính đối với chủ thể có hành vi vi phạm.
Lôi kéo, dụ dỗ người lao động để bóc lột có thể bị phạt 75 triệu đồng
Đối với các hành vi vi phạm quy định về tuyển dụng và quản lý lao động, nghị định cũng đưa ra nhiều mức xử phạt khác nhau tùy theo tính chất, mức độ vi phạm.
Theo đó, người sử dụng lao động có một trong các hành vi như không khai trình việc sử dụng lao động theo quy định; thu tiền của người lao động tham gia tuyển dụng; không nhập đầy đủ thông tin về người lao động vào sổ quản lý lao động kể từ ngày người lao động bắt đầu làm việc; không xuất trình sổ quản lý lao động khi cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền yêu cầu có thể bị phạt từ 1 triệu đồng đến 3 triệu đồng.
Đây là nhóm vi phạm liên quan đến trách nhiệm khai báo và quản lý thông tin người lao động trong quá trình tuyển dụng, sử dụng lao động.
Phạt đến 10 triệu đồng với một số vi phạm trong tuyển dụng
Mức phạt từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng được áp dụng đối với tổ chức, cá nhân có một trong các hành vi sau:
-
Phân biệt đối xử trong lao động, ngoại trừ các hành vi thuộc những trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 10, điểm d khoản 1 Điều 19, khoản 2 Điều 34, khoản 1 Điều 40 và điểm a khoản 2 Điều 41 của nghị định.
-
Sử dụng lao động chưa qua đào tạo hoặc chưa có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia đối với những nghề, công việc bắt buộc phải sử dụng lao động đã được đào tạo hoặc phải có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia.
-
Không báo cáo tình hình thay đổi về lao động theo quy định.
-
Không lập sổ quản lý lao động; lập sổ không đúng thời hạn hoặc không bảo đảm các nội dung cơ bản theo quy định pháp luật.
Các quy định này nhằm tăng trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc bảo đảm điều kiện tuyển dụng, quản lý nhân sự và thực hiện nghĩa vụ báo cáo theo quy định.
Lôi kéo, quảng cáo gian dối để tuyển dụng nhằm bóc lột có thể bị phạt 75 triệu đồng
Một trong những hành vi bị áp dụng mức phạt cao là sử dụng các thủ đoạn nhằm thu hút, đánh lừa người lao động để tuyển dụng với mục đích bóc lột hoặc cưỡng bức lao động.
Theo đó, hành vi lôi kéo, dụ dỗ, hứa hẹn, quảng cáo gian dối hoặc sử dụng thủ đoạn khác để lừa gạt người lao động hoặc tuyển dụng người lao động với mục đích bóc lột, cưỡng bức lao động, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, có thể bị phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 75 triệu đồng.
Mức phạt này cho thấy pháp luật đặc biệt chú trọng đến việc bảo vệ người lao động trước những phương thức tuyển dụng có dấu hiệu gian dối hoặc lợi dụng hoàn cảnh của người tìm việc.
Đồng thời, nếu hành vi đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì việc xử lý sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật hình sự thay vì chỉ áp dụng chế tài hành chính.
Người sử dụng lao động phải trả lại khoản tiền đã thu trái quy định
Bên cạnh tiền phạt, người sử dụng lao động còn có thể phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.
Đối với hành vi thu tiền của người lao động tham gia tuyển dụng quy định tại điểm b khoản 1, người sử dụng lao động vi phạm bị buộc trả lại cho người lao động khoản tiền đã thu.
Quy định này nhằm bảo đảm người lao động được hoàn trả khoản tiền bị thu trái quy định, đồng thời tạo cơ chế xử lý trực tiếp đối với hậu quả của hành vi vi phạm.
Mức phạt đối với tổ chức cao gấp đôi cá nhân
Lưu ý, các mức phạt tiền nêu trên được xác định theo mức áp dụng đối với cá nhân.
Đối với cùng một hành vi vi phạm, mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức bằng 2 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
Do đó, trong những trường hợp chủ thể vi phạm là tổ chức, số tiền xử phạt thực tế có thể cao hơn đáng kể so với mức phạt được nêu đối với cá nhân.
Các quy định về xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả nhằm tăng tính răn đe đối với những hành vi vi phạm trong lĩnh vực đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài cũng như hoạt động tuyển dụng, quản lý lao động trong nước.
Minh Tuyến
Theo Tạp chí Sở hữu trí tuệ & Sáng tạo (Đăng: 10/9/2026 |08:44)
