Hình phạt thích đáng dành cho người cản trở giao thông đường sắt

Theo Điều 268 Bộ luật Hình sự, người thực hiện hành vi cản trở giao thông đường sắt gây hậu quả nghiêm trọng có thể bị phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù. Mức án cao nhất đối với tội danh này lên tới 15 năm tù.

Hình phạt thích đáng dành cho người cản trở giao thông đường sắt

Các khung hình phạt đối với tội cản trở giao thông đường sắt

Căn cứ Điều 268 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017, hành vi cản trở giao thông đường sắt có thể bị xử lý theo nhiều khung hình phạt khác nhau, tùy thuộc vào tính chất hành vi và hậu quả xảy ra.

Khung hình phạt thứ nhất: Phạt tù từ 1 đến 3 năm

Người nào thực hiện một trong các hành vi như đặt chướng ngại vật trên đường sắt; làm xê dịch ray, tà vẹt; khoan, đào, xẻ trái phép nền đường sắt; tự ý mở đường ngang, xây cống hoặc công trình khác qua đường sắt; làm hỏng, thay đổi, di chuyển hoặc che khuất tín hiệu, biển hiệu, mốc hiệu của công trình giao thông đường sắt; để súc vật đi qua đường sắt không đúng quy định hoặc để súc vật kéo xe qua đường sắt mà không có người điều khiển; đưa trái phép phương tiện tự tạo, phương tiện không được phép chạy trên đường sắt; phá hoại phương tiện giao thông đường sắt; lấn chiếm hành lang an toàn giao thông đường sắt, phạm vi bảo vệ công trình giao thông đường sắt...

Nếu hành vi gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau hoặc người vi phạm đã từng bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi nêu trên mà còn tiếp tục vi phạm thì có thể bị phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 1 năm đến 3 năm:

  • Làm chết 1 người;

  • Gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho 1 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên;

  • Gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho từ 2 người trở lên, với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% đến 121%;

  • Gây thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng.

Khung hình phạt thứ hai: Phạt tù từ 3 đến 10 năm

Người phạm tội có thể bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm nếu thuộc một trong các trường hợp:

  • Làm chết 2 người;

  • Gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho từ 2 người trở lên, với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 122% đến 200%;

  • Gây thiệt hại về tài sản từ 500 triệu đồng đến dưới 1,5 tỷ đồng.

Khung hình phạt thứ ba: Phạt tù từ 7 đến 15 năm

Mức phạt tù từ 7 năm đến 15 năm được áp dụng đối với trường hợp:

  • Làm chết 3 người trở lên;

  • Gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho từ 3 người trở lên, với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 201% trở lên;

  • Gây thiệt hại về tài sản từ 1,5 tỷ đồng trở lên.

Như vậy, tùy thuộc vào hậu quả và mức độ vi phạm, người phạm tội cản trở giao thông đường sắt có thể phải chịu mức án cao nhất là 15 năm tù.

Trường hợp có nguy cơ gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

Ngoài các khung hình phạt nêu trên, trường hợp hành vi cản trở giao thông đường sắt có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều 268 Bộ luật Hình sự nhưng không được ngăn chặn kịp thời, người vi phạm có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm.

Mức phạt hành chính đối với hành vi cản trở giao thông đường sắt

Bên cạnh trách nhiệm hình sự, một số hành vi cản trở giao thông đường sắt có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo Điều 15 Nghị định 81/2026/NĐ-CP.

Trong đó, hành vi để vật chướng ngại lên đường sắt làm cản trở giao thông đường sắt có thể bị phạt từ 3 triệu đồng đến 5 triệu đồng đối với cá nhân.

Phạt từ 300.000 đến 500.000 đồng

Cá nhân có thể bị phạt từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng nếu thực hiện một trong các hành vi:

  • Đi, đứng, nằm, ngồi hoặc có hành vi khác trên đường sắt, trong cầu, hầm dành riêng cho đường sắt, trừ nhân viên đường sắt và lực lượng chức năng đang làm nhiệm vụ;

  • Vượt tường rào, hàng rào ngăn cách đường sắt với khu vực xung quanh;

  • Để súc vật đi qua đường sắt không đúng quy định hoặc để súc vật kéo xe qua đường sắt mà không có người điều khiển;

  • Đi, đứng, nằm, ngồi trên nóc toa xe, đầu máy, bậc lên xuống toa xe; đu bám hoặc đứng, ngồi ở những vị trí không được phép trên toa xe, đầu máy; mở cửa lên xuống tàu, đưa đầu, tay, chân hoặc vật khác ra ngoài khi tàu đang chạy, trừ trường hợp thuộc lực lượng chức năng hoặc nhân viên đường sắt đang làm nhiệm vụ;

  • Phơi rơm, rạ, nông sản hoặc để vật phẩm khác trên các công trình đường sắt;

  • Để đất, cát, vật tư, vật liệu khác rơi vãi lên đường sắt.

Phạt từ 2 đến 3 triệu đồng

Mức phạt từ 2 triệu đồng đến 3 triệu đồng được áp dụng với cá nhân thực hiện các hành vi:

  • Neo đậu phương tiện vận tải thủy, bè, mảng hoặc vật thể khác trong phạm vi bảo vệ cầu đường sắt;

  • Để phương tiện giao thông đường bộ, thiết bị, vật liệu, hàng hóa vi phạm khổ giới hạn tiếp giáp kiến trúc đường sắt, trừ trường hợp thuộc quy định tại điểm b khoản 3 Điều 15.

Các lực lượng phối hợp xử lý vi phạm ATGT đường sắt. Ảnh: CATP (Nguồn: Báo Điện Tử Chính Phủ)

Phạt từ 3 đến 5 triệu đồng

Cá nhân có thể bị phạt từ 3 triệu đồng đến 5 triệu đồng nếu:

  • Ngăn cản việc chạy tàu, tự ý báo hiệu hoặc sử dụng thiết bị để dừng tàu, trừ trường hợp phát hiện sự cố có nguy cơ mất an toàn giao thông đường sắt;

  • Đặt vật chướng ngại lên đường sắt làm cản trở giao thông;

  • Tự ý mở chắn đường ngang khi chắn đã đóng.

Phạt từ 5 đến 8 triệu đồng đối với cá nhân

Cá nhân là chủ sở hữu công trình, thiết bị điện, viễn thông có thể bị phạt từ 5 triệu đồng đến 8 triệu đồng nếu:

  • Không thực hiện biện pháp bảo đảm an toàn công trình đường sắt, an toàn giao thông đường sắt khi công trình, thiết bị điện, viễn thông nằm trong phạm vi bảo vệ công trình đường sắt hoặc hành lang an toàn giao thông đường sắt;

  • Không thực hiện biện pháp bảo đảm an toàn khi công trình điện lực, đường dây tải điện gây nhiễu hệ thống thông tin, tín hiệu đường sắt;

  • Không thực hiện biện pháp bảo đảm an toàn cho thiết bị, công trình đường sắt khi dây tải điện bị sự cố, đứt trong phạm vi bảo vệ công trình đường sắt, hành lang an toàn giao thông đường sắt.

Đối với tổ chức là chủ sở hữu công trình, thiết bị điện, viễn thông, mức phạt tương ứng từ 10 triệu đồng đến 16 triệu đồng.

Một số mức phạt khác

Cá nhân làm rơi gỗ, đá hoặc các vật thể khác gây sự cố, tai nạn chạy tàu có thể bị phạt từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng.

Tổ chức được giao quản lý, bảo trì tài sản kết cấu hạ tầng đường sắt hoặc chủ sở hữu đường ngang chuyên dùng không bố trí định biên gác đường ngang theo quy định có thể bị phạt từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng.

Tổ chức được giao quản lý, bảo trì tài sản kết cấu hạ tầng đường sắt có thể bị phạt từ 15 triệu đồng đến 20 triệu đồng nếu không có giải pháp kỹ thuật bảo đảm an toàn giao thông đường sắt trong quá trình khai thác, kinh doanh kết cấu hạ tầng đường sắt đối với tuyến được phép sử dụng độ dốc lớn hơn dốc hạn chế; hoặc không có biện pháp bảo đảm an toàn cho hành khách lên, xuống tàu tại những ga có ke ga đang sử dụng nhưng chưa được nâng cấp, cải tạo.

Các biện pháp khắc phục hậu quả

Ngoài hình thức xử phạt, cá nhân vi phạm còn có thể phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.

Người có hành vi đi, đứng, nằm, ngồi hoặc thực hiện hành vi khác trên đường sắt, cầu, hầm dành riêng cho đường sắt có thể bị buộc ra khỏi khu vực này.

Đối với hành vi phơi rơm, rạ, nông sản hoặc để vật phẩm trên công trình đường sắt, người vi phạm phải đưa các vật này ra khỏi công trình.

Người để đất, cát, vật tư, vật liệu hoặc vật chướng ngại lên đường sắt phải đưa các vật này ra khỏi khu vực đường sắt.

Đối với hành vi neo đậu bè, mảng, phương tiện vận tải thủy hoặc vật thể khác trong phạm vi bảo vệ cầu đường sắt, người vi phạm phải đưa các phương tiện, vật thể ra khỏi khu vực này.

Trường hợp để phương tiện giao thông đường bộ, thiết bị, vật liệu hoặc hàng hóa vi phạm khổ giới hạn tiếp giáp kiến trúc đường sắt, người vi phạm phải đưa các phương tiện, thiết bị, vật liệu, hàng hóa ra khỏi khu vực vi phạm.

Đối với các hành vi thuộc khoản 4 Điều 15, chủ thể vi phạm phải thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn công trình đường sắt và an toàn giao thông vận tải đường sắt theo quy định.

Như vậy, hành vi cản trở giao thông đường sắt có thể bị xử lý từ mức phạt hành chính đối với các vi phạm cụ thể đến trách nhiệm hình sự nếu gây hậu quả nghiêm trọng. Trong trường hợp thuộc khung hình phạt cao nhất của Điều 268 Bộ luật Hình sự, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm.

Nguồn: https://thuvienphapluat.vn/chinh-sach-phap-luat-moi/vn/ho-tro-phap-luat/tu-van-phap-luat/112229/toi-can-tro-giao-thong-duong-sat-theo-dieu-268-bo-luat-hinh-su

Hoàng Anh
Theo Tạp chí Sở hữu trí tuệ & Sáng tạo (Đăng: 08:15, 11/08/2026)