Gia đình tự cô lập giữa rừng sâu từ năm 1936, không biết Thế chiến II đã kết thúc
Những đứa trẻ lớn lên mà không hề biết đến sự tồn tại của bất kỳ con người nào khác ngoài cha mẹ mình và đếm thời gian bằng cách quan sát các vì sao.
Báo Thanh niên Việt ngày 21/1/2026 đưa tin: "Gia đình tự cô lập giữa rừng sâu từ năm 1936, không biết Thế chiến II đã kết thúc", nội dung như sau:
Năm 1978, một nhóm nhà địa chất Liên Xô khi đang bay trực thăng qua vùng núi Sayan hẻo lánh thuộc Siberia đã phát hiện ra một điều không tưởng: một mảnh vườn nhỏ nằm cheo leo trên sườn núi, cách khu dân cư gần nhất hơn 250 km. Tại đây, họ đã tìm thấy gia đình Lykov – những người đã tự cắt đứt liên lạc với thế giới từ năm 1936 và hoàn toàn không biết gì về những biến động lớn nhất của lịch sử nhân loại, bao gồm cả việc Thế chiến II đã kết thúc từ lâu.
Cuộc trốn chạy vào cõi vĩnh hằng
Câu chuyện bắt đầu từ những năm 1930, khi gia đình Lykov – những người thuộc một giáo phái cũ ở Nga đối mặt với sự đàn áp tôn giáo. Sau khi anh trai mình bị b:ắn ch:ết, Karp Lykov đã cùng vợ là Akulina và hai con nhỏ thu dọn đồ đạc, mang theo vài hạt giống và một chiếc khung cửi, tiến sâu vào rừng Taiga để tìm sự bình yên.
Trong suốt hơn bốn thập kỷ, họ dựng một ngôi nhà gỗ nhỏ tại một địa điểm khắc nghiệt, nơi nhiệt độ có thể xuống dưới -40°C. Tại đây, họ sinh thêm hai người con nữa. Những đứa trẻ nhà Lykov lớn lên mà không hề biết đến sự tồn tại của bất kỳ con người nào khác ngoài cha mẹ mình. Chúng học đọc, học viết thông qua những cuốn kinh thánh cũ và đếm thời gian bằng cách quan sát các vì sao.
Agafia (ở giữa) và cha cô, Karp, năm 1982.
Ảnh báo chí Nga chụp Karp Lykov (thứ hai từ trái) cùng Dmitry và Agafia, bên cạnh một nhà địa chất Liên Xô.
Khi các nhà địa chất tiếp cận gia đình vào năm 1978, Karp Lykov lúc đó đã ngoài 80 tuổi. Khoảnh khắc gây sốc nhất là khi họ nhận ra gia đình này hoàn toàn mù tịt về thế giới hiện đại. Khi được hỏi về những sự kiện lớn, Karp ngơ ngác không biết rằng con người đã đặt chân lên Mặt Trăng, và kinh ngạc hơn cả, họ không hề hay biết Thế chiến II đã kết thúc.
Gia đình Lykov đã sống qua suốt những năm 1940 trong sự cô độc tuyệt đối. Trong khi hàng triệu người ngã xuống và bản đồ thế giới bị vẽ lại, họ chỉ bận tâm đến việc làm sao để khoai tây không bị thối và làm sao để sống sót qua những mùa đông dài dằng dặc. Đối với họ, những chiếc máy bay bay qua bầu trời chỉ là "những ngôi sao di động kỳ lạ" hay một điềm báo từ thần linh.
Cuộc sinh tồn khắc nghiệt hơn cả trí tưởng tượng
Cuộc sống của nhà Lykov không phải là một bài thơ về sự tự do, mà là một cuộc chiến sinh tồn tàn khốc. Họ không có muối, không có kim loại (sau khi chiếc nồi duy nhất bị hỏng vì rỉ sét), và quần áo được làm từ vải gai tự dệt. Thức ăn chủ yếu là khoai tây, lúa mạch hạt và hạt thông.
Căn lều nơi gia đình Lykov sinh sống.
Đỉnh điểm của bi kịch là vào năm 1961, khi một trận sương muối muộn đã phá hủy toàn bộ vườn tược của họ. Để nhường thức ăn cho các con, người mẹ Akulina đã chấp nhận ch:ết đói. Những người con lớn lên trong tình cảnh thiếu thốn đến mức họ chưa từng nhìn thấy một chiếc bánh mì thực sự cho đến khi các nhà địa chất xuất hiện. Tuy nhiên, họ lại sở hữu những kỹ năng sinh tồn phi thường: người con trai Savin có thể đi chân trần trên tuyết để săn thú, còn các thành viên khác có khả năng nhận diện hàng trăm loại cây cỏ có thể làm thuốc.
Sự xâm nhập của thế giới hiện đại và cái kết buồn
Sự xuất hiện của con người vào năm 1978 hóa ra lại mang đến những hệ quả đau lòng. Dù mang đến thực phẩm, dụng cụ kim loại và sự hỗ trợ y tế, nhưng các nhà khoa học cũng vô tình mang theo những loại vi khuẩn mà cơ thể gia đình Lykov chưa bao giờ được tiếp xúc.
Năm 1981, ba trong số bốn người con đã qua đời trong vòng vài tuần do suy thận và viêm phổi. Ông cụ Karp Lykov qua đời vào năm 1988, đúng 27 năm sau ngày vợ ông mất. Người con gái út, Agafia Lykov, trở thành thành viên duy nhất còn sống sót của gia tộc.
Dù nhận được lời mời trở về với xã hội hiện đại, Agafia đã từ chối. Bà chọn ở lại ngôi nhà gỗ giữa rừng Taiga cho đến tận ngày nay (năm 2026, bà đã ngoài 80 tuổi). Với Agafia, thế giới bên ngoài quá ồn ào và đầy tội lỗi. Bà thà sống cô độc với những con dê và khu vườn nhỏ của mình, tiếp tục dòng chảy thời gian riêng biệt mà gia đình bà đã gây dựng từ gần một thế kỷ trước.
Bà Agafia Lykov hiện vẫn sống trong rừng
Câu chuyện nhà Lykov không chỉ là một kỳ tích về sức chịu đựng của con người, mà còn là một minh chứng cho thấy lịch sử thế giới đôi khi chỉ là những hạt bụi nhỏ bé khi đặt cạnh sự kiên định của đức tin và bản năng sinh tồn giữa thiên nhiên hoang dã.
Trước đó, báo Giáo dục và Thời đại từng chia sẻ về câu chuyện trên trong bài đăng: "Gia đình sống như Tarzan trong rừng sâu", nội dung cho biết:
Khu vườn giữa rừng sâu
Mùa Hè ở Siberia không kéo dài lâu. Tuyết tan vào tháng 5 nhưng sẽ xuất hiện lại vào tháng 9, biến những cánh rừng taiga trở thành bức tranh phong cảnh tĩnh lặng tuyệt đẹp. Khu rừng ấy trải dài hàng trăm cây số với những rừng thông và bạch dương mọc lởm chởm, ngọn núi dốc đứng, dòng sông nước trắng xóa.
Taiga vốn là ngôi nhà của các loài động vật hoang dã chứ không dành cho con người. Tuy nhiên, vào năm 1978, các nhà thám hiểm Liên Xô tình cờ phát hiện một gia đình 5 người sống trong rừng taiga, Siberia. Họ đã cắt đứt mọi liên lạc với con người kể từ khi chạy trốn vào năm 1936.
Vào buổi sáng buốt giá năm 1978, một phi công khi đang tập lái máy bay thì phát hiện một điều kì lạ. Giữa những hàng cây mọc lởm chởm trên sườn núi có một khoảng đất trống với những rãnh dài như thửa ruộng. Phi công nghi ngờ đây là một khu vườn, dấu hiệu của con người.
Ngọn núi này cách khu dân cư gần nhất gần 250 km, nằm trong khu vực hoang dã chưa được khám phá. Chính phủ Liên Xô không có dữ liệu về những người sống ở đây. Một đội thám hiểm đã tiếp cận nơi được cho là khu vườn. Theo hướng chỉ của phi công, đoàn phát hiện ra nhiều dấu vết của con người như một con đường gồ ghề, khúc gỗ nằm ngang con suối, nhà kho nhỏ đựng khoai tây khô.
Bên cạnh dòng suối là một ngôi nhà. Bị thời gian tàn phá, ngôi nhà trông nhỏ bé, cũ kĩ và lụp xụp. Nếu không có ô cửa sổ nhô ra, không ai nghĩ có người sống trong ngôi nhà tồi tàn đó.
Nghe thấy tiếng người lao xao, một ông già chậm rãi xuất hiện sau cánh cửa. Đi chân trần, mặc chiếc áo vá bằng vải bố, ông trông rất sợ hãi xen lẫn tò mò. Đại diện đoàn cất lời: “Chào ông. Chúng tôi đến thăm mọi người”.
Sau một hồi lưỡng lự, cụ ông lẩm bẩm: “Được rồi, vì mọi người đã đi xa đến thế nên mọi người có thể vào trong”.
Cuộc sống như thời Trung cổ
Ngôi nhà không khác gì một cái hang, lạnh như hầm rượu. Cảnh tượng bên trong nhà giống như thời Trung cổ. Sàn nhà lát vỏ khoai tây và vỏ hạt thông. Đột nhiên, trong căn nhà tối om vang lên tiếng than khóc của hai người phụ nữ.
Họ vừa nhìn về phía đoàn thám hiểm với ánh mắt sợ hãi, vừa lẩm bẩm đọc kinh. Các nhà khoa học vội vã lùi ra khỏi túp lều và đóng trại ở một địa điểm cách đó vài mét. Trời ngả tối, họ bắt đầu chế biến thức ăn đóng hộp.
Sau khoảng nửa giờ, người đàn ông lớn tuổi cùng 2 cô con gái xuất hiện. Họ không còn vẻ hoảng loạn mà thận trọng quan sát. Cả ba ngồi xuống bên cạnh những vị khách, từ chối thưởng thức mứt, trà, bánh mì.
Khi được hỏi đã bao giờ thấy bánh mì chưa, cụ ông trả lời: “Tôi thì rồi nhưng các cháu thì không. Chúng chưa bao giờ nhìn thấy nó”. Ông già nghe hiểu tiếng Nga còn những cô con gái nói chuyện bằng một ngôn ngữ bị bóp méo bởi cuộc đời cô lập.
Qua nhiều chuyến viếng thăm, đoàn thám hiểm đã mường tượng toàn bộ câu chuyện về gia đình này. Ông già tên là Karp Osipovich Lykov, một cựu tín đồ tôn giáo. Ông và những thành viên trong giáo phái đã bị tấn công, ngược đãi do xung đột tôn giáo.
Mọi chuyện dần tồi tệ hơn khi đám đông cuồng tín tấn công những người không cùng giáo phái, thậm chí cố tình thanh trừng những người chống đối. Anh trai của Lykov đã bị b:ắn ch:ết. Sợ bị trả thù, Lykov dẫn gia đình chạy trốn vào rừng.
Cuộc sống tự cung, tự cấp
Đó là năm 1936, gia đình Lykov chỉ có 4 người là Lykov, vợ ông Akulina, con trai Savin 9 tuổi và con gái Natalia 2 tuổi. Mang theo đồ đạc và một ít hạt giống, họ vào sâu trong rừng taiga và sống “tự cung tự cấp”.
Hai đứa trẻ đã được sinh ra ngoài tự nhiên là Dmitry vào năm 1940 và Agafia vào năm 1944. Lũ trẻ chỉ biết đến thế giới bên ngoài qua lời kể của cha mẹ chúng và thế giới đấy cực kì đen tối.
Cuộc sống của gia đình Lykov trong vòng cô lập hết sức khó khăn, phụ thuộc vào những món đồ mang theo và tìm cách sống sót dựa vào tài nguyên thiên nhiên. Họ dùng vỏ cây bạch dương làm giày. Quần áo được vá chằng vá đụp cho đến khi chúng rách bươm, phải thay thế bằng vải cây gai dầu.
Nhà Lykov không thể nấu ăn vì nồi niêu mang theo hỏng dần theo thời gian, chủ yếu ăn khoai tây trộn, lúa mạch đen xay và hạt cây gai dầu. Vào mùa Hè, họ có thể thu hoạch quả việt quất, mâm xôi, hạt thông xung quanh khu rừng nhưng khi trời trở lạnh, cả nhà phải sống giữa cơn đói.
Đến năm 1950, Dmitry trưởng thành, bắt đầu tập bẫy động vật lấy thịt và da. Không có súng hoặc cung, cậu bé chỉ có thể đào bẫy hoặc truy đuổi con mồi qua các ngọn núi cho đến khi chúng kiệt sức. Nhờ thế, Dmitry đã rèn luyện được thể chất và sức bền đáng kinh ngạc.
Cậu có thể đi săn vào mùa Đông trong nhiều ngày. Dù vậy, quanh năm nhà Lykov luôn bị đói. Họ cố gắng trồng trọt nhưng thời tiết khắc nghiệt và động vật hoang dã phá hoại. Vì nhường phần ăn của mình cho các con, bà Akulina đã ch:ết vì đói vào tháng 2/1961.
Khi các nhà thám hiểm đến, ông Lykov rất say mê lắng nghe về những cải tiến mới nhất trong lĩnh vực khoa học. Dù không tin con người đã đặt chân lên Mặt trăng nhưng ông thích thú với ý tưởng về vệ tinh.
Gia đình Lykov đã nhận thấy chúng từ những năm 1950, khi “các ngôi sao di chuyển nhanh hơn trên bầu trời”. Bản thân Lykov cũng tự giải thích điều này rằng: “Mọi người đã nghĩ ra một vật gì đó và cho nó phát ra ánh sáng như những ngôi sao”.
Trong các thành viên gia đình Lykov, người khiến các nhà thám hiểm chú ý nhất là cậu con trai Dmitry, một người đàn ông thuộc về rừng núi. Anh biết tất cả về rừng taiga và cũng là người chịu khó nhất nhà. Dmitry đã tự xây dựng bếp lò, dùng vỏ cây bạch dương bện thành giỏ đựng thức ăn.
Sau một thời gian làm quen, hai bên dần trở nên gắn bó. Những nhà thám hiểm tặng cho gia đình Lykov nhiều món đồ hiện đại nhưng họ chỉ nhận một thứ duy nhất, là muối. Sống hơn 4 thập kỉ thiếu muối với ông Lykov là điều cực kì khó khăn.
Mỗi khi ăn khoai tây hay những món tạm bợ, vợ chồng ông lại nhớ đến vị mằn mặn của muối, gia vị giúp tăng cường dinh dưỡng cho cơ thể. Dần dần, cha con Lykov chấp nhận nhiều món đồ tiếp tế hơn như chăn, tất len, ngũ cốc… Họ chủ yếu nhận nhu yếu phẩm, không muốn nhận những phát minh “kì lạ” của con người.
Tái hòa nhập
Các nhà thám hiểm đã cố gắng thuyết phục ông Lykov và con cái rằng thế giới ngoài kia đã khác xưa và không còn những kẻ vô lối như trước đây. Dù vậy, vì đã sống trong rừng quá lâu, đến mức người cha quên đi nền văn minh nhân loại, họ không muốn quay lại xã hội.
Đến mùa Thu năm 1981, 3 năm sau khi đoàn thám hiểm phát hiện và gắn kết với gia đình Lykov, họ cũng chịu hòa nhập. Thế nhưng, 3 trong 5 thành viên gia đình đột ngột qua đời. Một số người cho rằng cái ch:ết của họ là do tiếp xúc với những căn bệnh truyền nhiễm của nhân loại do họ không có khả năng miễn dịch. Dmitry ch:ết vì viêm phổi do lây từ một người bạn mới làm quen trong thế giới mới. Savin và Natalia ch:ết vì suy thận.
Chính phủ Liên Xô đã cố gắng thuyết phục ông Lykov và con gái Agafia trở về ngôi làng cũ, nơi họ hàng của họ vẫn đang sống. Nhưng Lykov một mực từ chối với lý do ông đã quen với khu rừng.
Agafia theo đoàn thám hiểm trở về Liên Xô, được giới truyền thông tích cực săn đón. Cô thậm chí còn đi “vòng quanh đất nước” để chia sẻ câu chuyện về cuộc sống hoang dã của gia đình mình. Tuy nhiên, Agafia bị ngộp trước đám đông và những tòa nhà đồ sộ. Sau một tháng làm quen với thế giới của con người, Agafia quyết định quay lại túp lều nhỏ trong khu rừng, nơi cô lớn lên cùng bố mẹ và các anh chị em.
Ngày 16/2/1988, Karp Lykov qua đời trong giấc ngủ. Agafia chôn cất bố trên sườn núi với sự giúp đỡ của các nhà địa chất rồi quay về nhà. “Tôi sẽ ở lại. Đó là nhà của tôi”, Agafia nói.
Năm 1994, nhà báo Vasily Peskov đã xuất bản cuốn sách kể về gia đình mang tên “Lost in the Taiga: One Russian Family’s Fifty-Year Struggle for Survival and Religious Freedom in the Siberian Wilderness”. Nhờ đó, cuộc sống của họ được cả thế giới biết đến. Cuốn sách đã được một đạo diễn người Pháp mua bản quyền và chuyển thể thành phim.
