Uống nước đậu đen ngâm mỗi ngày suốt 1 năm, người phụ nữ 59 tuổi đi khám sức khỏe nhận kết quả khó tin
Một nắm đậu đen ngâm nước uống mỗi ngày nghe có vẻ chỉ là mẹo dưỡng sinh dân gian quen thuộc. Vậy kiên trì uống nó một năm liệu kết quả sẽ ra sao?
Theo báo Văn hóa có bài Uống nước đậu đen ngâm mỗi ngày suốt 1 năm, người phụ nữ 59 tuổi đi khám sức khỏe nhận kết quả khó tin. Nội dung như sau:
Một phụ nữ 59 tuổi ở Trung Quốc đã thực sự kiên trì duy trì thói quen này suốt một năm, đến khi đi khám sức khỏe định kỳ, nhiều chỉ số trong kết quả xét nghiệm lại cải thiện rõ rệt khiến bác sĩ cũng khá bất ngờ. Vậy loại hạt nhỏ bé này thực sự có lợi ích gì cho sức khỏe?
Giá trị dinh dưỡng của đậu đen thường bị đánh giá thấp
Đậu đen từ lâu đã được sử dụng phổ biến trong ẩm thực và y học cổ truyền. Dù hình dáng giản dị, nhưng loại hạt này lại chứa nhiều dưỡng chất có lợi cho cơ thể.
Trước hết, đậu đen là nguồn protein thực vật chất lượng cao. Hàm lượng protein trong đậu đen khá dồi dào, có thể so sánh với một số loại thực phẩm giàu đạm khác nhưng lại không chứa cholesterol, vì vậy phù hợp với người ăn chay hoặc những người muốn giảm tiêu thụ thịt đỏ.
Ngoài ra, lớp vỏ màu đen đặc trưng của đậu chứa anthocyanin, một nhóm chất chống oxy hóa mạnh. Các hợp chất này giúp trung hòa gốc tự do, từ đó góp phần làm chậm quá trình lão hóa và hỗ trợ bảo vệ tim mạch.

Đậu đen cũng cung cấp nhiều khoáng chất vi lượng quan trọng như kẽm, magie và selen. Đặc biệt, magie tham gia vào hàng trăm phản ứng enzyme trong cơ thể, có vai trò trong việc điều hòa huyết áp, hỗ trợ chức năng thần kinh và giảm căng thẳng.
Việc bổ sung đậu đen vào chế độ ăn hằng ngày có thể mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe nếu sử dụng hợp lý.
Một trong những tác dụng được nhắc đến là hỗ trợ kiểm soát đường huyết. Hàm lượng chất xơ trong đậu đen khá cao, giúp làm chậm quá trình hấp thu đường vào máu. Nhờ đó, mức đường huyết sau bữa ăn có thể ổn định hơn.
Đậu đen cũng chứa axit béo không bão hòa và saponin, những hợp chất có thể hỗ trợ bảo vệ thành mạch máu và góp phần giảm tích tụ mảng bám trong lòng mạch. Vì vậy, việc ăn đậu đen điều độ có thể có lợi cho sức khỏe tim mạch.
Ngoài ra, trong đậu đen còn có oligosaccharide, một loại chất xơ hòa tan giúp nuôi dưỡng hệ vi khuẩn có lợi trong ruột. Khi hệ vi sinh đường ruột khỏe mạnh, quá trình tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng cũng diễn ra hiệu quả hơn, đồng thời góp phần tăng cường miễn dịch.
Những sai lầm phổ biến khi ăn đậu đen
Dù có nhiều lợi ích, nhưng nếu sử dụng không đúng cách, giá trị dinh dưỡng của đậu đen có thể không được phát huy tối đa.
- Ăn đậu đen chưa được nấu chín kỹ. Đậu sống hoặc nhai trực tiếp có thể gây đầy hơi hoặc khó tiêu. Tốt nhất nên ngâm đậu trước khi nấu để hạt mềm hơn và dễ hấp thu dinh dưỡng.
- Nhiều người cho rằng đậu đen là nguồn bổ sung sắt hiệu quả. Dù đậu đen có chứa sắt, nhưng đây là sắt thực vật nên khả năng hấp thu không cao. Nếu muốn tăng hấp thu sắt, nên ăn đậu đen cùng với thực phẩm giàu vitamin C như rau xanh hoặc trái cây.
- Không phải ai cũng nên ăn nhiều đậu đen. Người bị bệnh gout cần hạn chế vì các loại đậu có chứa purin, có thể làm tăng axit uric. Những người có hệ tiêu hóa yếu cũng nên ăn với lượng vừa phải để tránh đầy bụng.
Đậu đen có thể không phải là thực phẩm “đắt tiền” hay được quảng cáo rầm rộ, nhưng lại là một nguồn dinh dưỡng tự nhiên có lợi cho sức khỏe nếu sử dụng hợp lý.
Các chuyên gia dinh dưỡng cho rằng thay vì phụ thuộc quá nhiều vào thực phẩm chức năng, việc duy trì chế độ ăn cân bằng, bổ sung thực phẩm giàu dinh dưỡng như các loại đậu, rau xanh và ngũ cốc vẫn là cách đơn giản và bền vững để bảo vệ sức khỏe lâu dài.
Theo Phụ nữ số đưa tin "4 loại canh "phá thậ:n" nếu uống nhiều, bác sĩ nhấn mạnh loại đầu tiên có thể gây suy thậ:n, ngưng ti:m nhanh chóng" nội dung chính như sau:
Theo bác sĩ chuyên khoa thậ:n Hồng Vĩnh Tường (Đài Loan, Trung Quốc), thậ:n có nhiệm vụ lọc chất thải chuyển hóa trong máu và duy trì cân bằng điện giải cùng nước trong cơ thể. Khi thực phẩm bị hầm, ninh trong thời gian dài, thành tế bào bị phá vỡ, giải phóng kali, phospho và các sản phẩm phân hủy protein như purin vào nước canh. Người khỏe mạnh có thể tạm thời thích nghi, nhưng với người mắc bệnh thậ:n mạn tính hoặc uống nhiều trong thời gian dài, các chất này tích tụ trong máu, làm tăng huyết áp, tổn thương ống thậ:n, thậm chí dẫn đến urê huyết cao.
Dưới đây là 4 loại canh được bác sĩ cảnh báo.
Thứ nhất là canh thuốc bắc không rõ nguồn gốc, được xem như “sát thủ thầm lặng” của kali. Nhiều người nghĩ cơ thể yếu thì cần bồi bổ, nhưng quên rằng dược liệu cũng là thực vật, mà thực vật lại chứa hàm lượng kali cao. Ở người có chức năng thậ:n suy giảm, kali không được đào thải hiệu quả sẽ gây tăng kali máu. Tình trạng này có thể dẫn đến rối loạn nhịp ti:m, thậm chí ngừng ti:m đột ngột. Với bệnh nhân thậ:n, một bát canh thuốc bắc không rõ thành phần có thể là bước đệm tiến gần hơn tới phòng chạy thậ:n.

Thứ hai là nước hầm xương ninh lâu. Nhiều người tin rằng canh xương bổ canxi, nhưng thực tế lượng canxi hòa tan không đáng kể, trong khi nguy cơ khác lại tăng lên. Hơn 90% chì trong cơ thể động vật tồn tại ở xương. Khi xương được ninh trong môi trường có tính axit hoặc thời gian dài, chì có thể hòa tan vào nước canh. Chì là kim loại nặng có đ:ộc tính cao với thậ:n, gây tổn thương trực tiếp ống thậ:n. Bên cạnh đó, xương chứa nhiều phospho. Phospho hòa tan nhiều trong nước hầm có thể gây tăng phospho máu ở người suy thậ:n, dẫn tới vôi hóa mạch máu, bệnh xương do thậ:n và đẩy nhanh quá trình suy thậ:n.

Thứ ba là nước lẩu. Khi thịt, hải sản và rau được đun sôi liên tục trên 30 phút, phosphat từ thịt, phụ gia trong thực phẩm chế biến sẵn và kali từ rau củ sẽ tích tụ trong nước dùng. Uống phần nước này đồng nghĩa với việc đưa một lượng lớn chất hòa tan vào cơ thể, tạo thêm gánh nặng cho thậ:n.

Thứ tư là nước dùng mì ramen đậm đặc. Một bát ramen có thể chứa từ 3.500 đến 5.000 miligam natri. Khi natri vào máu với lượng lớn, cơ thể phải giữ nước để cân bằng áp suất thẩm thấu, làm tăng huyết áp. Môi trường huyết áp cao kéo dài sẽ khiến các tiểu động mạch ở cầu thậ:n xơ cứng, khiến chức năng lọc suy giảm sớm.

Canh vốn được xem là món “dưỡng sinh”, nhưng nếu không chú ý thành phần và cách chế biến, nó có thể trở thành gánh nặng âm thầm cho thậ:n. Đặc biệt với người có bệnh thậ:n, tăng huyết áp hay đái tháo đường, việc kiểm soát lượng nước dùng, natri, kali và phospho trong khẩu phần ăn là yếu tố then chốt để bảo vệ chức năng thậ:n lâu dài.
