Từ nay đến hết 30/9/2027: Hỗ trợ cho mỗi CBCCVC từ 2 triệu - 4 triệu đồng/người/tháng theo Nghị quyết 01, cụ thể ra sao?
Nay đến hết 30/9/2027, hỗ trợ cho mỗi CBCCVC từ 2 triệu - 4 triệu đồng/người/tháng theo Nghị quyết 01 ra sao?
Báo Người Đưa Tin đưa tin với tiêu đề: "Từ nay đến hết 30/9/2027: Hỗ trợ cho mỗi CBCCVC từ 2 triệu - 4 triệu đồng/người/tháng theo Nghị quyết 01, cụ thể ra sao?", nội dung được đăng tải như sau:
Theo Thư viện Pháp luật, căn cứ vào Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐND năm 2025 quy định chính sách hỗ trợ đối với CBCCVC người lao động đến công tác tại trung tâm hành chính của tỉnh Thái Nguyên có hiệu lực từ ngày 14 tháng 7 năm 2025 đến hết ngày 30 tháng 9 năm 2027.
Theo đó, Nghị quyết này áp dụng đối với CBCCVC và người lao động làm việc trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức Hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở địa phương (sau đây gọi tắt là các cơ quan, đơn vị) của tỉnh Bắc Kạn (trước sắp xếp) về công tác tại các cơ quan, đơn vị cấp tỉnh (sau sắp xếp) và cấp xã thuộc địa giới hành chính của tỉnh Thái Nguyên (trước sắp xếp).
Bên cạnh đó, CBCCVC và người lao động vừa nêu trên phải đáp ứng điều kiện là chưa có nhà ở thuộc sở hữu của cá nhân, của vợ (chồng) trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên (trước sắp xếp) đến thời điểm nhận hỗ trợ và đang tiếp tục công tác sau sắp xếp và thời gian công tác dưới 15 ngày/tháng được tính bằng ½ mức hỗ trợ. Từ 15 ngày/tháng trở lên tính tròn 01 tháng.
Do đó, Hội đồng Nhân dân quyết định chi hỗ trợ tiền đi lại và hỗ trợ tiền thuê nhà đối với cán bộ công chức viên chức người lao động này. Mức chi hỗ trợ: 4.000.000 đồng/người/tháng khi công tác từ 15 ngày/tháng trở lên. Mức chi hỗ trợ: 2.000.000 đồng/người/tháng khi công tác dưới 15 ngày/tháng.
Lưu ý: Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐND năm 2025 quy định chính sách hỗ trợ đối với cán bộ công chức viên chức người lao động đến công tác tại trung tâm hành chính của tỉnh Thái Nguyên.
Ngoài ra, căn cứ Điều 43 Luật Cán bộ, công chức 2025 quy định như sau:
Áp dụng quy định của Luật Cán bộ, công chức đối với các đối tượng khác
1. Cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ quy định cụ thể việc áp dụng Luật này đối với những người được bầu cử nhưng không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 2 của Luật này; chế độ phụ cấp đối với người đã nghỉ hưu nhưng được bầu cử giữ chức vụ, chức danh cán bộ.
2. Cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chính phủ quy định cụ thể việc áp dụng Luật này đối với những người làm việc ở các hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ.
3. Việc xử lý đối với hành vi vi phạm trong thời gian công tác của cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu được quy định như sau:
a) Mọi hành vi vi phạm trong thời gian công tác của cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu đều bị xử lý theo quy định của pháp luật;
b) Căn cứ vào tính chất, mức độ nghiêm trọng, người có hành vi vi phạm có thể bị xử lý hình sự, hành chính hoặc xử lý kỷ luật;
c) Cán bộ, công chức sau khi nghỉ việc hoặc nghỉ hưu mới phát hiện có hành vi vi phạm trong thời gian công tác thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong những hình thức kỷ luật khiển trách, cảnh cáo, xóa tư cách chức vụ đã đảm nhiệm gắn với hệ quả pháp lý tương ứng với hình thức xử lý kỷ luật.
Chính phủ quy định chi tiết khoản này.
Như vậy, việc xử lý đối với hành vi vi phạm trong thời gian công tác của cán bộ công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu được quy định như sau:
- Mọi hành vi vi phạm trong thời gian công tác của cán bộ công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu đều bị xử lý theo quy định của pháp luật;
- Căn cứ vào tính chất, mức độ nghiêm trọng, người có hành vi vi phạm có thể bị xử lý hình sự, hành chính hoặc xử lý kỷ luật;
- Cán bộ công chức sau khi nghỉ việc hoặc nghỉ hưu mới phát hiện có hành vi vi phạm trong thời gian công tác thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong những hình thức kỷ luật khiển trách, cảnh cáo, xóa tư cách chức vụ đã đảm nhiệm gắn với hệ quả pháp lý tương ứng với hình thức xử lý kỷ luật.
Báo Lao Động đưa tin với tiêu đề: "Tăng lương, phụ cấp từ năm 2026, giáo viên đợi hướng dẫn chi tiết", nội dung được đăng tải như sau:
Lương giáo viên xếp cao nhất, bỏ chia nhà giáo thành các hạng I, II, III
Từ 1.1.2026, Luật Nhà giáo chính thức có hiệu lực, quy định xếp lương nhà giáo cao nhất trong thang bảng lương hành chính sự nghiệp. Ngoài lương cơ bản, nhà giáo còn được hưởng phụ cấp theo tính chất công việc và điều kiện vùng miền.
Về chế độ phụ cấp, Bộ GDĐT đang đề xuất lộ trình tăng phụ cấp cho nhà giáo theo 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1 (2026-2030): Phụ cấp ưu đãi tăng 15% so với hiện nay, tức 45-85%; Tăng thêm 5% phụ cấp ưu đãi đối với giảng viên đại học và giáo viên cơ sở giáo dục nghề nghiệp (lên 30%); Nhân viên trường học lần đầu hưởng phụ cấp ưu đãi 20%.
Giai đoạn hai là từ năm 2031 trở đi sẽ thực hiện mức phụ cấp ưu đãi như Nghị quyết 71.
Ngoài lương, chế độ đãi ngộ, tại Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà giáo, Bộ GDĐT đề xuất chuyển từ "thăng hạng" sang "thăng tiến nghề nghiệp" (bao gồm thăng tiến tuần tự và thăng tiến đột xuất) gắn với chuẩn nghề nghiệp và thành tích thực tế; cập nhật tinh thần Luật Viên chức năm 2025 để đảm bảo tính thời đại và thống nhất pháp lý.
Giáo viên mong chính sách sớm đi vào cuộc sớm
Theo cô Nguyễn Thị Hương Thuỳ, giáo viên tiếng Anh tại Trường THPT Việt Vinh (Tuyên Quang), việc Luật hóa vị thế nhà giáo với mức lương ưu tiên là một nguồn động viên rất thực tế.
“Quy định này cho thấy sự quan tâm của Nhà nước, giúp chúng tôi cảm thấy yên tâm cống hiến hơn” - cô Thuỳ chia sẻ.
Tuy nhiên, trong giai đoạn chờ hướng dẫn chi tiết, vấn đề được giáo viên quan tâm nhất là cách thức quy đổi hệ số lương cũ sang bảng lương mới.
Cô Hoàng Thị Hạnh - giáo viên Trường Tiểu học Nguyễn Trãi (Tuyên Quang) cho rằng, tiêu chí quy đổi cần đảm bảo tính kế thừa và không làm sụt giảm thu nhập thực tế. Ngoài ra, mức lương mới cần tương xứng với thâm niên và kinh nghiệm công tác.
“Một giáo viên đã gắn bó 20 năm với nghề chắc chắn phải có vị trí lương khác với người mới vào nghề. Nếu việc quy đổi không rõ ràng, minh bạch, người thầy sẽ rất dễ cảm thấy thiệt thòi” - cô Hạnh phân tích.
Bên cạnh đó, các khoản phụ cấp thâm niên và phụ cấp ưu đãi là phần rất quan trọng trong thu nhập hàng tháng của giáo viên vùng cao. Cô Hạnh mong muốn khi gộp các khoản này vào lương cơ bản, cách tính toán phải khoa học để đảm bảo tổng số tiền thực nhận không bị giảm đi. Chỉ khi thu nhập thực tế tăng lên, chính sách mới thực sự tạo được động lực cho đội ngũ nhà giáo.
Một nội dung khác mà giáo viên rất quan tâm là quy trình công nhận chức danh nghề nghiệp khi không còn khái niệm thăng hạng. Theo cô Hạnh, thay vì các kỳ thi lý thuyết hay chứng chỉ, việc đánh giá nên dựa vào chất lượng giảng dạy và đạo đức nghề nghiệp.
“Đánh giá thật thì mới có giáo viên giỏi thật. Nên nhìn vào chất lượng bài giảng và sự tín nhiệm của đồng nghiệp, phụ huynh. Không nên mặc nhiên xếp chức danh cao cho người có bằng thạc sĩ nếu hiệu quả dạy học thực tế không đạt yêu cầu. Ngoài ra, việc công khai tiêu chuẩn và kết quả xét duyệt sẽ giúp đảm bảo tính minh bạch, tránh tình trạng xét duyệt cục bộ tại cơ sở" - cô Hạnh bày tỏ quan điểm.
Chia sẻ thêm, cô Hạnh mong mỏi cơ quan quản lý sớm ban hành Thông tư hướng dẫn cụ thể về xếp lương và tiêu chuẩn chức danh. Lộ trình triển khai nên được thực hiện từng bước, có sự hướng dẫn chi tiết để các trường không lúng túng.
“Điều giáo viên mong mỏi nhất vẫn là được dạy học một cách đúng nghĩa và có thể sống ổn định bằng chính đồng lương của mình” - cô Hạnh nói.
Đồng quan điểm, cô Nguyễn Thị Bảy - giáo viên Trường Tiểu học Tây Tựu A (Hà Nội) cùng đồng nghiệp cũng kỳ vọng các chính sách sớm đi vào cuộc sống.
"Các chính sách mới về lương, chế độ đãi ngộ sẽ thúc đẩy, tạo động lực cho chúng tôi công tác trong nghề và yên tâm với nghề của mình hơn nữa" - cô Bảy bày tỏ.
