Từ năm 2026, trẻ em được hưởng chính xác 795.000 đồng hằng tháng tiền trợ cấp xã hội theo Nghị quyết 34, cụ thể ra sao?
Thực hiện theo Nghị quyết 34, trẻ em được hưởng chính xác 795.000 đồng hằng tháng tiền trợ cấp xã hội từ năm 2026 khi thuộc trường hợp bao nhiêu tuổi nào?
Chuyên trang Góc nhìn pháp lý ngày 21/3/2026 đưa tin: "Từ năm 2026, trẻ em được hưởng chính xác 795.000 đồng hằng tháng tiền trợ cấp xã hội theo Nghị quyết 34, cụ thể ra sao?", nội dung cụ thể cho biết:
Theo quy định tại Điều 4 Nghị quyết 34/2025/NQ-HĐND như sau:
|
Đối tượng khó khăn khác chưa được quy định tại Nghị định số 20/2021/NĐ-CP 1. Đối tượng a) Trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng thuộc một trong các trường hợp sau đây: - Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng (trừ đối tượng thuộc khoản 4 Điều 5 Nghị định số 20/2021/NĐ -CP) hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng, hoặc trợ cấp ưu đãi người có công hằng tháng; - Cả cha và mẹ đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng, hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng, hoặc trợ cấp ưu đãi người có công hằng tháng; - Cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng (trừ đối tượng thuộc khoản 4 Điều 5 Nghị định số 20/2021/NĐ-CP) hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng, hoặc trợ cấp ưu đãi người có công hằng tháng; - Cha hoặc mẹ đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng, hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng, hoặc trợ cấp ưu đãi người có công hằng tháng và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc , cơ sở cai nghiện bắt buộc. b) Người thuộc diện quy định tại điểm a khoản 1 Điều này đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng mà đủ 16 tuổi nhưng đang học văn hóa, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất thì tiếp tục được hưởng chính sách trợ giúp xã hội cho đến khi kết thúc học nhưng tối đa không quá 22 tuổi. c) Người khuyết tật thần kinh, tâm thần mức độ đặc biệt nặng có hành vi nguy hiểm cho gia đình, cộng đồng trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang thuộc diện cần thiết phải cách ly khỏi cộng đồng, đưa vào quản lý, nuôi dưỡng, điều trị, phục hồi chức năng tại cơ sở trợ giúp xã hội để đảm bảo trật tự, an toàn xã hội. d) Trẻ em dưới 3 tuổi thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo chưa được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng theo quy định tại Nghị định số 20/2021/NĐ-CP. 2. Mức trợ cấp xã hội hằng tháng Đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng với mức bằng mức chuẩn trợ giúp xã hội quy định tại Điều 2 Nghị quyết này nhân với hệ số tương ứng quy định, như sau: a) Đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều này được hưởng: - Hệ số 2,5 đối với trường hợp dưới 4 tuổi; - Hệ số 1,5 đối với trường hợp từ đủ 4 tuổi trở lên. b) Đối tượng quy định tại điểm b, d khoản 1 Điều này được hưởng hệ số 1,5. c) Đối tượng quy định tại điểm c khoản 1 Điều này được hưởng mức trợ giúp xã hội quy định tại Điều 3 Nghị quyết này và các chế độ chính sách khác theo quy định. |
Dẫn chiếu đến Điều 2 Nghị quyết 34/2025/NQ-HĐND quy định mức mức chuẩn trợ giúp xã hội là 530.000 đồng/tháng.
Như vậy, trẻ em từ đủ 4 tuổi trở lên thuộc đối tượng sau sẽ được hưởng 795.000 đồng/tháng tiền trợ cấp xã hội:
+ Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng (trừ đối tượng thuộc khoản 4 Điều 5 Nghị định 20/2021/NĐ -CP) hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng, hoặc trợ cấp ưu đãi người có công hằng tháng;
+ Cả cha và mẹ đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng, hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng, hoặc trợ cấp ưu đãi người có công hằng tháng;
+ Cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng (trừ đối tượng thuộc khoản 4 Điều 5 Nghị định 20/2021/NĐ-CP) hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng, hoặc trợ cấp ưu đãi người có công hằng tháng;
+ Cha hoặc mẹ đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng, hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng, hoặc trợ cấp ưu đãi người có công hằng tháng và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc , cơ sở cai nghiện bắt buộc.
+ Người khuyết tật thần kinh, tâm thần mức độ đặc biệt nặng có hành vi nguy hiểm cho gia đình, cộng đồng trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang thuộc diện cần thiết phải cách ly khỏi cộng đồng, đưa vào quản lý, nuôi dưỡng, điều trị, phục hồi chức năng tại cơ sở trợ giúp xã hội để đảm bảo trật tự, an toàn xã hội.
+ Trẻ em thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo chưa được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng theo quy định tại Nghị định 20/2021/NĐ-CP.
Lưu ý: Nghị quyết 34/2025/NQ-HĐND quy định mức chuẩn trợ giúp xã hội, mức trợ cấp hưu trí xã hội, mức trợ giúp xã hội, đối tượng khó khăn được hưởng chính sách trợ giúp xã hội, mức chi phí chi trả chính sách trợ giúp xã hội trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang.
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 3 Nghị định 20/2021/NĐ-CP như sau:
|
Nguyên tắc cơ bản về chính sách trợ giúp xã hội 1. Chính sách trợ giúp xã hội được thực hiện kịp thời, công bằng, công khai, minh bạch; hỗ trợ theo mức độ khó khăn và ưu tiên tại gia đình, cộng đồng nơi sinh sống của đối tượng. 2. Chế độ, chính sách trợ giúp xã hội được thay đổi theo điều kiện kinh tế đất nước và mức sống tối thiểu dân cư từng thời kỳ. 3. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức và cá nhân nuôi dưỡng, chăm sóc và trợ giúp đối tượng trợ giúp xã hội. |
Theo đó, các nguyên tắc cơ bản về chính sách trợ giúp xã hội là:
- Chính sách trợ giúp xã hội được thực hiện kịp thời, công bằng, công khai, minh bạch; hỗ trợ theo mức độ khó khăn và ưu tiên tại gia đình, cộng đồng nơi sinh sống của đối tượng.
- Chế độ, chính sách trợ giúp xã hội được thay đổi theo điều kiện kinh tế đất nước và mức sống tối thiểu dân cư từng thời kỳ.
- Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức và cá nhân nuôi dưỡng, chăm sóc và trợ giúp đối tượng trợ giúp xã hội.
Báo VnExpress trước đó cũng đưa tin: "Từ 1/7, mẹ sinh con thứ 2 có thể nghỉ 7 tháng, cha nghỉ 10 ngày", nội dung cụ thể như sau:
Dự thảo mới cho phép người mẹ sinh con thứ hai nghỉ 7 tháng, thêm một tháng so với trước, giúp các gia đình có thêm thời gian chăm trẻ.
Luật Dân số quy định từ ngày 1/7, mẹ thai sản 7 tháng, cha nghỉ 10 ngày, trường hợp sinh ba trở lên thì được nghỉ thêm 3 ngày làm việc cho mỗi con tính từ cháu thứ ba trở đi.
Chính phủ đang lấy ý kiến dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành luật, hiệu lực từ 1/7, nêu rõ điều kiện hưởng là lao động nữ sinh con, lao động nam tham gia BHXH bắt buộc có vợ sinh con thứ hai mà tại thời điểm sinh có một con đẻ.

Em bé chào đời ngày Quốc khánh 2/9/2025 tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Ảnh: Giang Huy
Thủ tục hưởng thực hiện theo quy định pháp luật về bảo hiểm xã hội, hồ sơ đề nghị hưởng theo mẫu và các giấy tờ khác. Theo đó, Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định điều kiện hưởng thai sản là lao động nữ đóng BHXH bắt buộc từ đủ 6 tháng trở lên trong 12 tháng liền kề trước khi sinh. Mức hưởng hàng tháng của lao động nữ bằng 100% bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH 6 tháng gần nhất trước khi nghỉ việc hưởng thai sản; thời gian đóng BHXH không liên tục thì được cộng dồn.
Hồ sơ đề nghị hưởng quyền lợi bao gồm một số giấy tờ như mẫu Xác nhận sinh con thứ hai có xác nhận của UBND cấp xã, phường, đặc khu; chứng nhận bản sao giấy khai sinh/trích lục khai sinh hoặc bản sao giấy chứng sinh của con...
Lao động nam đang đóng BHXH bắt buộc khi vợ sinh con cũng được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản, cụ thể: 5 ngày làm việc nếu vợ sinh thường; 7 ngày làm việc khi vợ sinh con phải phẫu thuật hoặc sinh con dưới 32 tuần tuổi; 10 ngày làm việc nếu vợ sinh đôi, trường hợp sinh ba trở lên thì được nghỉ thêm 3 ngày làm việc cho mỗi con tính từ trẻ thứ ba trở đi; 14 ngày nếu vợ sinh đôi phải phẫu thuật.
Trường hợp sinh ba trở lên phải phẫu thuật thì nam giới được nghỉ thêm 3 ngày làm việc cho mỗi con tính từ trẻ thứ ba trở đi. Trợ cấp thai sản một ngày với lao động nam được tính bằng mức hưởng một tháng chia cho 24 ngày. Luật sửa đổi mở rộng chế độ thai sản với nam giới diện đóng bắt buộc từ ngày 1/7/2025, được nghỉ thai sản trong vòng 60 ngày tính từ khi vợ sinh thay vì 30 ngày như trước. Người lao động có thể nghỉ nhiều lần miễn sao tổng số ngày nghỉ không vượt quá quy định và lần nghỉ cuối cùng nằm trong 60 ngày đầu sau khi vợ sinh.
Luật Dân số được thông qua tháng 12/2025 với 4 mục tiêu lớn là duy trì mức sinh thay thế, giảm mất cân bằng giới tính khi sinh, thích ứng già hóa dân số và nâng cao chất lượng dân số. Mức sinh trên toàn quốc đang giảm thấp dưới mức sinh thay thế, từ 2,11 con/phụ nữ vào năm 2021 xuống 1,91 con/phụ nữ vào năm 2024, còn 1,93 con/phụ nữ vào năm 2025. Dự báo với tỷ lệ sinh thấp như trên, Việt Nam khó đạt mục tiêu duy trì mức sinh thay thế trên toàn quốc vào năm 2030.
