Hơn 40.000 bé gái không có cơ hội chào đời mỗi năm tại Việt Nam

Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh khiến Việt Nam thiếu khoảng 40.800 bé gái mỗi năm, chủ yếu do tâm lý chuộng con trai và định kiến giới. Hệ quả không chỉ ảnh hưởng đến cơ cấu dân số mà còn làm gia tăng nguy cơ nam giới khó tìm bạn đời trong nhiều thập kỷ tới.

Hơn 40.000 bé gái không có cơ hội chào đời mỗi năm tại Việt Nam

Việt Nam thuộc nhóm quốc gia có tỷ số giới tính khi sinh cao

Theo Báo cáo Tình trạng Dân số Thế giới năm 2020 của Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA), Việt Nam thiếu hụt khoảng 40.800 trẻ em gái sơ sinh mỗi năm do tình trạng lựa chọn giới tính trước khi sinh. Đây là vấn đề dân số đáng lo ngại, bắt nguồn chủ yếu từ quan niệm coi trọng con trai hơn con gái và những định kiến giới tồn tại trong xã hội.

Việt Nam thiếu hụt khoảng 40.800 trẻ em gái sơ sinh mỗi năm do tình trạng lựa chọn giới tính trước khi sinh. (Ảnh minh họa).

Tỷ số giới tính khi sinh (S:ex Ratio at Birth - SRB) được xác định bằng số bé trai sinh sống trên mỗi 100 bé gái sinh sống trong cùng một khoảng thời gian. Theo Luật Dân số, mức cân bằng tự nhiên nằm trong khoảng 104-106 bé trai trên 100 bé gái. Nếu tỷ số vượt khỏi ngưỡng này, tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh được xác định.

Số liệu do Liên hợp quốc công bố năm 2024 cho thấy Việt Nam và Trung Quốc nằm trong nhóm quốc gia có tỷ số giới tính khi sinh cao nhất thế giới, vượt mức 110 bé trai trên 100 bé gái.

Tại Việt Nam, Cục Thống kê ghi nhận tỷ số giới tính khi sinh năm 2024 đạt 111,4 bé trai trên 100 bé gái. Chênh lệch cũng thể hiện rõ trong nhóm trẻ từ 0-14 tuổi, khi cứ 100 bé gái thì có 109,7 bé trai.

Tình trạng này không đồng đều giữa các vùng. Đồng bằng sông Hồng ghi nhận tỷ số 113,2 bé trai trên 100 bé gái, trong khi Trung du và miền núi phía Bắc đạt 115,3 bé trai trên 100 bé gái, thuộc nhóm cao nhất cả nước.

Các chuyên gia cho rằng, khi mong muốn sinh con trai chi phối quyết định của gia đình, một số người có thể tìm cách lựa chọn giới tính thai nhi. Điều này làm thay đổi cơ cấu giới tính của trẻ sinh ra so với quy luật sinh học tự nhiên, đồng thời tạo ra những hệ quả khó khắc phục trong tương lai.

 Việt Nam và Trung Quốc nằm trong nhóm quốc gia có tỷ số giới tính khi sinh cao nhất thế giới, vượt mức 110 bé trai trên 100 bé gái. (Ảnh minh họa).

Hơn 1,3 triệu nam giới có thể dư thừa trong độ tuổi kết hôn

Mất cân bằng giới tính khi sinh không chỉ là vấn đề của trẻ sơ sinh mà còn tác động đến cơ cấu dân số khi các thế hệ trưởng thành. Theo kết quả Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024, số nam giới từ 20-39 tuổi tại Việt Nam đã nhiều hơn số nữ giới cùng nhóm tuổi khoảng 415.200 người.

Dự báo dân số giai đoạn 2024-2074 của Cục Thống kê đưa ra ba kịch bản về mức sinh: thấp với tổng tỷ suất sinh 1,45 con/phụ nữ, trung bình 1,85 con/phụ nữ và cao 2,01 con/phụ nữ. Những kết quả dự báo có thể thay đổi tùy theo diễn biến mức sinh và các yếu tố dân số trong tương lai.

Với kịch bản mức sinh trung bình, tình trạng dư thừa nam giới trong độ tuổi kết hôn được dự báo tiếp tục gia tăng. Đến năm 2029, cứ 100 nam giới từ 20-39 tuổi sẽ có hơn 3 người thuộc diện dư thừa so với số nữ giới cùng độ tuổi.

Đến năm 2034, khoảng cách này có thể lên tới 711.700 người, tương đương 4,9% tổng số nam giới trong nhóm tuổi trên. Sau đó, chênh lệch tiếp tục tăng và có khả năng đạt đỉnh vào năm 2049, khi số nam giới nhiều hơn nữ giới cùng độ tuổi khoảng 1,3 triệu người.

Theo kịch bản này, sau năm 2049, khoảng cách giới tính được dự báo thu hẹp dần do giả định tỷ số giới tính khi sinh từng bước trở lại mức cân bằng từ sau năm 2034. Dù vậy, những tác động tích lũy từ các thế hệ sinh ra trong thời kỳ mất cân bằng vẫn còn kéo dài.

Đến năm 2074, số nam giới trong độ tuổi kết hôn được dự báo vẫn cao hơn số nữ giới cùng nhóm tuổi khoảng 829.000 người. Điều đó cho thấy việc đưa tỷ số giới tính khi sinh trở lại mức cân bằng không đồng nghĩa với việc những hệ quả dân số sẽ biến mất ngay lập tức.

Các chuyên gia cảnh báo tình trạng thiếu hụt phụ nữ trong độ tuổi kết hôn có thể khiến một bộ phận nam giới gặp khó khăn trong việc tìm kiếm bạn đời, dẫn đến kết hôn muộn hoặc sống độc thân. Những biến động này cũng làm dấy lên lo ngại về các vấn đề xã hội liên quan đến bạo lực và mua bán phụ nữ.

Luật Dân số nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi

Trước những hệ lụy trên, Việt Nam đã triển khai các giải pháp về dân số, bình đẳng giới và ngăn chặn hành vi lựa chọn giới tính thai nhi. Một cơ sở pháp lý quan trọng là Luật Dân số số 113/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.

Theo Điều 6 của luật, lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức là hành vi bị nghiêm cấm. Việc thông báo hoặc tiết lộ giới tính thai nhi cũng không được phép, ngoại trừ trường hợp phục vụ chẩn đoán, điều trị bệnh liên quan đến giới tính theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.

Điều 15 quy định các biện pháp giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh, trong đó khuyến khích đưa nội dung không trọng nam khinh nữ và không lựa chọn giới tính khi sinh vào hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư.

 Ảnh minh họa.

Luật cũng quy định việc đình chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh đối với người thông báo hoặc tiết lộ giới tính thai nhi nhằm mục đích phá thai, theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh. Cơ quan thống kê trung ương có trách nhiệm công bố tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh hằng năm, làm cơ sở để Chính phủ và chính quyền cấp tỉnh xây dựng biện pháp can thiệp phù hợp.

Bên cạnh đó, Nghị định 90/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế có hiệu lực từ ngày 15/5/2026, tạo cơ sở xử lý các hành vi vi phạm thuộc phạm vi điều chỉnh. Thông tư 11/2026/TT-BYT của Bộ Y tế, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, quy định danh mục bệnh được phép thông báo, tiết lộ giới tính thai nhi để phục vụ chẩn đoán và điều trị. Đây là ngoại lệ về chuyên môn y tế, không phải cơ chế cho phép lựa chọn giới tính theo mong muốn.

Xóa bỏ định kiến giới là giải pháp lâu dài

Bên cạnh việc hoàn thiện quy định và xử lý vi phạm, Luật Dân số nhấn mạnh vai trò của truyền thông, vận động và giáo dục nhằm giảm mất cân bằng giới tính khi sinh. Các hoạt động này hướng đến nâng cao vị thế của phụ nữ và trẻ em gái, đồng thời thay đổi quan niệm coi trọng con trai hơn con gái.

Tình trạng chênh lệch giới tính đã được cảnh báo từ đầu những năm 2000. Số liệu hơn 415.200 nam giới nhiều hơn nữ giới trong độ tuổi kết hôn hiện nay cho thấy những tác động của mất cân bằng giới tính khi sinh đã thể hiện rõ trong cơ cấu dân số.

Nếu không được kiểm soát hiệu quả, tình trạng này có thể tiếp tục tạo ra áp lực về hôn nhân và kéo theo những nguy cơ xã hội đáng quan ngại. Vì vậy, thực thi pháp luật, giám sát và xử lý hành vi lựa chọn giới tính thai nhi cần đi cùng với việc thay đổi nhận thức, thúc đẩy bình đẳng giới và bảo đảm trẻ em gái được coi trọng như trẻ em trai.

Tác giả: Ngọc Phạm

Theo Tạp chí Sở hữu Trí tuệ và Sáng tạo (Đăng 15/10/2026 | 10h27)