Từ 2026, hàng trăm nghìn người lao động sẽ nhận được khoản tiền 4.140.000 đồng: Điều kiện cụ thể ra sao?
Đối tượng nào được tăng lên mức 4.140.000 đồng (mức lương mới) để tính hưởng trợ cấp thất nghiệp tối đa?
Theo tạp chí Phụ nữ mới đăng tải bài viết với tiêu đề: "Từ 2026, hàng trăm nghìn người lao động sẽ nhận được khoản tiền 4.140.000 đồng: Điều kiện cụ thể ra sao?", nội dung chính như sau:
Không còn áp dụng mức 2.340.000 đồng mà tăng lên 4.140.000 đồng (mức lương mới) để tính mức hưởng trợ cấp thất nghiệp tối đa cho nhóm đối tượng nào?
Tại Điều 50 Luật Việc làm 2013 quy định mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định.
Hoặc không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.
Do đó, trợ cấp thất nghiệp tối đa đến hết năm 2025 được tính theo 2 cách:
Cách 1: Dựa trên lương cơ sở áp dụng đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định.
TCTN tối đa = 5 x Lương cơ sở
Cách 2: Dựa trên lương tối thiểu vùng áp dụng đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định.
TCTN tối đa = 5 x Mức lương tối thiểu vùng
Sang Điều 39 Luật Việc làm 2025 (hiệu lực từ 01/01/2026) mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp gần nhất trước khi chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc nhưng tối đa không quá 05 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng do Chính phủ công bố được áp dụng tại tháng cuối cùng đóng bảo hiểm thất nghiệp.
Như vậy ở luật mới không có sự phân chia người lao động ở khu vực công hay khu vực tư trong cách tính mức hưởng trợ cấp thất nghiệp tối đa nữa.
Do đó, trợ cấp thất nghiệp tối đa từ năm 2026 thống nhất thực hiện theo công thức sau:
TCTN tối đa = 5 x Mức lương tối thiểu vùng
Như vậy, đối với người lao động từ 01/01/2026 sẽ thống nhất dùng lương tối thiểu vùng trong cơ số tính mức hưởng trợ cấp thất nghiệp tối đa.
Hiện nay mức lương tối thiểu vùng theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 74/2024/NĐ-CP quy định mức thấp nhất tại vùng 4 là 3,450,000 và cao nhất ở vùng 1 là 4,960,000 đồng.
Theo Nghị định 293/2025/NĐ-CP đầu năm 2026 thì mức thấp nhất ở vùng 4 là 3,700,000 đồng và cao nhất ở vùng 1 là 5,310,000 đồng.
Cụ thể, vùng I có mức lương tối thiểu tăng từ 4.960.000 đồng lên 5.310.000 đồng, tương ứng mức tăng 7,06%.
Đối với vùng II, lương tối thiểu tăng từ 4.410.000 đồng lên 4.730.000 đồng, mức tăng 7,26%.
Tại vùng III, mức lương tối thiểu được điều chỉnh tăng từ 3.860.000 đồng lên 4.140.000 đồng, tương đương 7,25%.
Trong khi đó, vùng IV có mức lương tối thiểu tăng từ 3.450.000 đồng lên 3.700.000 đồng, cũng ở mức 7,25%.
Như vậy, từ ngày 01/01/2026, lương tối thiểu vùng trên cả nước đều được điều chỉnh tăng, trong đó vùng I tiếp tục là khu vực có mức lương tối thiểu cao nhất, còn vùng IV thấp nhất, song chênh lệch giữa các vùng vẫn được giữ ổn định theo chính sách tiền lương hiện hành.
Cụ thể mức lương tối thiểu vùng hiện nay:
|
Vùng |
Mức lương tối thiểu tháng (Đơn vị: đồng/tháng) |
Mức lương tối thiểu giờ (Đơn vị: đồng/giờ) |
|
Vùng 1 |
4.960.000 |
23.800 |
|
Vùng 2 |
4.410.000 |
21.200 |
|
Vùng 3 |
3.860.000 |
18.600 |
|
Vùng 4 |
3.450.000 |
16.600 |
(Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 74/2024/NĐ-CP)
Tuy nhiên theo Nghị định 293 quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động từ 01/01/2026 thì mức lương tối thiểu vùng mới sẽ là:
|
Vùng |
Mức lương tối thiểu tháng (Đơn vị: đồng/tháng) |
Mức lương tối thiểu giờ (Đơn vị: đồng/giờ) |
|
Vùng 1 |
5.310.000 |
25.500 |
|
Vùng 2 |
4.730.000 |
22.700 |
|
Vùng 3 |
4.140.000 |
19.900 |
|
Vùng 4 |
3.700.000 |
17.800 |
(Mức lương tối thiểu áp dụng vào ngày 01/01/2026)
Do đó, từ 01/01/2026 áp dụng tăng từ 2,340,000 đồng lên 4,140,000 đồng (mức cao nhất) làm cơ sở tính trợ cấp thất nghiệp tối đa cho đối tượng thực hiện tiền lương do nhà nước quy định trong trường hợp:
Người lao động thực hiện chế độ tiền lương theo nhà nước quy định làm việc tại địa bàn vùng 3.
Báo Dân Việt cũng đăng tải bài viết liên quan với tiêu đề: "Những chính sách tiền lương, phụ cấp mới tác động tới hàng triệu công chức, người lao động từ 1/1/2026", nội dung chính như sau:
Tăng lương tối thiểu vùng từ hôm nay - 1/1/2026
Cuối năm 2025, Chính phủ đã đồng ý tăng lương tối thiểu vùng. Ngay sau đó ban hành Nghị định số 293/2025/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động trong năm 2026. Nghị định này chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2026.
Theo Nghị định 293/2025/NĐ-CP, mức lương tối thiểu tháng tại 4 vùng được quy định như sau: Vùng I: tăng 350.000 đồng, từ 4.960.000 đồng/tháng lên 5.310.000 đồng/tháng; Vùng II: tăng 320.000 đồng, từ 4.410.000 đồng/tháng lên 4.730.000 đồng/tháng; Vùng III: tăng 280.000 đồng từ 3.860.000 đồng/tháng lên 4.140.000 đồng/tháng; Vùng IV: tăng 250.000 đồng từ 3.450.000 đồng/tháng lên 3.700.000 đồng/tháng.
Mức lương tối thiểu theo giờ tại vùng I tăng từ 23.800 đồng/giờ lên 25.500 đồng/giờ, vùng II từ 21.200 đồng/giờ lên 22.700 đồng/giờ, vùng III từ 18.600 đồng/giờ lên 20.000 đồng/giờ, vùng IV từ 16.600 đồng/giờ lên 17.800 đồng/giờ.
Như vậy, mức lương tối thiểu nêu trên tăng từ 250.000 đồng - 350.000 đồng/tháng (tương ứng tỉ lệ bình quân 7,2%) so với mức lương tối thiểu hiện hành quy định tại Nghị định 74/2024/NĐ-CP.
Tuy nhiên, tăng lương tối thiểu vùng là tăng mức lương áp dụng cho lao động làm việc tại khu vực doanh nghiệp, khu vực tư chứ không phải là tăng lương cho người lao động làm việc tại khu vực công - cho cán bộ, công chức, viên chức, lao động hưởng lương từ ngân sách Nhà nước.
Tiền lương của nhà giáo được ưu tiên xếp cao nhất
Hiện nay, tiền lương nhà giáo làm việc ở các cơ sở công lập vẫn hưởng lương từ nguồn ngân sách Nhà nước. Hiện Luật Nhà giáo vừa được thông qua trong năm 2025 có 9 chương, 42 điều có hiệu lực từ ngày 1/1/2026. Luật quy định tiền lương của nhà giáo được xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp. Phụ cấp ưu đãi nghề và phụ cấp khác tùy theo tính chất công việc, theo vùng theo quy định của pháp luật.
Nhà giáo cấp học mầm non; nhà giáo công tác ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; nhà giáo dạy trường chuyên biệt; nhà giáo thực hiện giáo dục hòa nhập; nhà giáo ở một số ngành, nghề đặc thù được hưởng chế độ tiền lương và phụ cấp cao hơn so với nhà giáo làm việc trong điều kiện bình thường.
Tiền lương của nhà giáo trong cơ sở giáo dục ngoài công lập thực hiện theo quy định của pháp luật về lao động. Có thể áp dụng tiền lương dựa trên lương tối thiểu vùng có thương lượng tiền lương giữa 2 bên.
Nhà giáo công tác ở ngành, nghề có chế độ đặc thù thì được hưởng chế độ đặc thù theo quy định của pháp luật và chỉ được hưởng ở một mức cao nhất nếu chính sách đó trùng với chính sách dành cho nhà giáo...
Tăng phụ cấp đặc biệt với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang
Ngoài chế độ tiền lương, Chính phủ, Bộ Nội vụ cũng ban hành nhiều chính sách nhằm cải thiện phụ cấp cho cán bộ, công chức và lực lượng vũ trang.
Mới đây, Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư 24/2025/TT-BNV hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp đặc biệt đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang.
Những người làm việc ở các địa bàn đảo xa đất liền và vùng biên giới có điều kiện sinh hoạt đặc biệt khó khăn quy định tại phụ lục ban hành kèm theo thông tư này được hưởng phụ cấp đặc biệt, gồm:
Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ, chiến sĩ, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động đã được xếp lương theo bảng lương do Nhà nước quy định, công nhân trong biên chế của các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam, Công an nhân dân và tổ chức cơ yếu.
Cán bộ, công chức, viên chức và lao động hợp đồng (bao gồm cả trường hợp đang trong thời gian tập sự) đã được xếp lương theo bảng lương do Nhà nước quy định làm việc trong các cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, các hội và các tổ chức phi chính phủ được cấp có thẩm quyền quyết định thành lập.
Theo đó, phụ cấp đặc biệt được tính bằng tỉ lệ % so với mức lương hiện hưởng cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) hoặc phụ cấp quân hàm hiện hưởng đối với hạ sĩ quan, chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang. Phụ cấp gồm 3 mức: 30%, 50% và 100%; áp dụng tùy theo địa bàn làm việc của đối tượng được hưởng phụ cấp.
Thông tư 24/2025/TT-BNV có hiệu lực từ 1/1/2026.
Ngoài 3 điểm mới trên, nhiều khả năng trong đầu năm 2026 này Chính phủ sẽ cân nhắc, cân đối tài chính để tiếp tục tăng lương cơ sở - tiền lương làm căn cứ trả lương cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động khu vực tư.
Nhiều chuyên gia tiền lương cho rằng, nếu được tăng lương, nền tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động làm khu vực công có thể bằng hoặc vượt tiền lương khu vực tư. Điều này giúp tăng năng lực cho khu vực công, tạo tiền đề là nền tảng dẫn dắt sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước trong thời gian tới.
