Bộ Y tế: Virus Nipah có tiềm năng gây đại dịch, ca nghi nhiễm phải cách ly ngay
Theo Bộ Y tế, bệnh do virus Nipah được xếp vào bệnh truyền nhiễm nhóm A, tỉ lệ tử vong lên đến 75%, có tiềm năng gây đại dịch. Tất cả các ca bệnh Nipah nghi ngờ hoặc xác định phải được nhập viện và điều trị tại các phòng cách ly riêng biệt hoặc khu vực chuyên biệt.
Ngày 14 tháng 2 năm 2026, báo Dân Việt đăng tải bài viết với tiêu đề "Bộ Y tế: Virus Nipah có tiềm năng gây đại dịch, ca nghi nhiễm phải cách ly ngay". Nội dung như sau:
Bộ Y tế: Virus Nipah có tiềm năng gây đại dịch, ca nghi nhiễm phải cách ly ngay
Thứ trưởng Bộ Y tế Trần Văn Thuấn vừa ban hành hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh do virus Nipah. Cụ thể, trong đó có cách ly và kiểm soát nhiễm khuẩn là bước đầu tiên và quan trọng nhất để ngăn chặn bệnh do virus Nipah lây lan.
Bộ Y tế yêu cầu nhập viện và cách ly ngay lập tức tất cả các ca bệnh nghi ngờ hoặc xác định phải được nhập viện và điều trị tại các phòng cách ly riêng biệt hoặc khu vực chuyên biệt. Không cho phép người nhà hoặc người không có nhiệm vụ vào thăm người bệnh trong khu vực cách ly. Đồng thời áp dụng các biện pháp phòng ngừa lây truyền qua đường tiếp xúc và giọt bắn theo hướng dẫn của Bộ Y tế.
Theo Bộ Y tế, hiện chưa có vắc xin phòng bệnh Nipah, thực hiện các biện pháp phòng bệnh chủ yếu dựa vào ngăn chặn đường lây truyền theo quy định của Bộ Y tế. Các thuốc kháng vi rút hiện đang nghiên cứu, chưa có khuyến cáo chuẩn.
Về điều trị triệu chứng và điều trị hỗ trợ với ca bệnh Nibah, Bộ Y tế hướng dẫn sử dụng paracetamol để hạ sốt. Chống chỉ định với NSAID (là nhóm thuốc kháng viêm không steroid), do nguy cơ gây biến chứng chảy máu hoặc hội chứng Reye (hội chứng bệnh về não, rối loạn chức năng gan cấp tính hiếm gặp).
Cần duy trì cân bằng dịch và điện giải thông qua đường uống hoặc truyền tĩnh mạch. Chỉ sử dụng kháng sinh nếu có bằng chứng nhiễm khuẩn thứ phát. Điều trị các triệu chứng và tình trạng rối loạn chức năng khác theo từng trường hợp bệnh cụ thể...
Nguy cơ virus Nipah lây từ người sang người, tỉ lệ tử vong lên đến 75%
Theo Bộ Y tế, bệnh do virus Nipah (NiV) là bệnh truyền nhiễm cấp tính lây truyền từ động vật sang người, có thể lây từ người sang người. Virus được phát hiện lần đầu năm 1998 tại Malaysia. Biểu hiện nặng của bệnh thường là viêm não và viêm phổi nặng, với tỷ lệ tử vong từ 40% - 75% hoặc để lại di chứng.
Bệnh do virus Nipah được xếp vào bệnh truyền nhiễm nhóm A, có tiềm năng gây đại dịch và nằm trong danh sách ưu tiên của Tổ chức Y tế thế giới. Virus Nipah có vật chủ tự nhiên là dơi ăn quả. Dơi mang virus nhưng không biểu hiện triệu chứng bệnh. Vật chủ trung gian là lợn, đôi khi là ngựa hoặc các gia súc khác (dê, cừu và chó).
Virus có hai dòng gây bệnh chính, trong đó NiV-Malaysia (NiV-M) liên quan đến lây từ động vật sang người. Khả năng lây truyền từ người sang người của dòng này rất thấp. NiV-Bangladesh (NiV-B) và NiV-India (NiV-I) có độc lực cao hơn, khả năng lây truyền từ người sang người khi tiếp xúc với dịch tiết của người bệnh cao hơn so với chủng Malaysia.
Virus Nipah lây truyền khi tiếp xúc trực tiếp với động vật nhiễm bệnh hoặc chất tiết của chúng (nước tiểu, nước bọt, ...). Tiêu thụ thực phẩm (như nhựa cây chà là, trái cây, ...) bị nhiễm chất bài tiết của dơi.
Lây từ người sang người (hệ số lây nhiễm từ người sang người thấp: từ 0,2 - 0,4) qua dịch tiết hô hấp, nước tiểu hoặc chất nôn, virus lan truyền qua các giọt bắn khi người bệnh ho hoặc hắt hơi. Những người bệnh có triệu chứng hô hấp (ho, khó thở) có nguy cơ lây truyền cao hơn những người chỉ có triệu chứng viêm não.
Theo Bộ Y tế, ca bệnh Nipah nghi ngờ là người có yếu tố dịch tễ trở về từ vùng dịch lưu hành, hoặc có tiếp xúc với dịch tiết của ca bệnh xác định trong vòng 14 ngày và có triệu chứng lâm sàng nghi ngờ, bao gồm sốt kèm biểu hiện rối loạn thần kinh; sốt kèm đau đầu; sốt kèm các triệu chứng hô hấp (ho, khó thở). Ca bệnh Nipah xác định là người có bằng chứng xét nghiệm xác nhận nhiễm virus NiV qua phát hiện RNA của virus.
Báo VnExpress cũng đăng tải bài viết với tiêu đề "Bộ Y tế: 'Virus Nipah có tiềm năng gây đại dịch'". Nội dung như sau:
Ngày 13/2, Bộ Y tế ban hành Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh do virus Nipah, nhằm thống nhất việc chẩn đoán, điều trị, cách ly căn bệnh này trên toàn quốc. Động thái này diễn ra trong bối cảnh một số nước trên thế giới như Ấn Độ, Bangladesh đã ghi nhận các ca nhiễm và 2 ca tử vong.
"Bệnh do virus Nipah được xếp vào bệnh truyền nhiễm nhóm A, có tiềm năng gây đại dịch và nằm trong danh sách ưu tiên của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)", Bộ Y tế thông tin.
Cụ thể, với đặc điểm lây từ động vật sang người, khả năng lây giữa người với người dù chưa cao nhưng đã được ghi nhận, cùng tỷ lệ tử vong lớn và chưa có vaccine, virus Nipah được đánh giá là một trong những mầm bệnh có nguy cơ gây đại dịch trong tương lai.

Kiểm dịch y tế để kiểm soát Covid tại sân bay Nội Bài thời kỳ bùng dịch. Ảnh: Giang Huy
Bệnh do virus Nipah (NiV) là bệnh truyền nhiễm cấp tính lây truyền từ động vật sang người (zoonosis), có thể lây từ người sang người. Virus được phát hiện lần đầu năm 1998 tại Malaysia, kể từ đó các đợt bùng phát lẻ tẻ nhưng thường xuyên được ghi nhận tại Bangladesh, Ấn Độ, Singapore và Philippines. Biểu hiện nặng của bệnh thường là viêm não và viêm phổi nặng, với tỷ lệ tử vong từ 40% đến 75% hoặc để lại di chứng nặng nề.
Virus Nipah thuộc họ Paramyxoviridae, chi Henipavirus, là virus RNA sợi đơn. Vật chủ tự nhiên là dơi ăn quả thuộc chi Pteropus – loài mang virus nhưng không biểu hiện bệnh.
Con người có thể nhiễm bệnh khi tiếp xúc trực tiếp với động vật nhiễm bệnh (đặc biệt là lợn trong đợt dịch tại Malaysia) hoặc chất tiết như nước tiểu, nước bọt. Ăn thực phẩm bị nhiễm chất bài tiết của dơi (nhựa cây chà là, trái cây). Tiếp xúc gần với người bệnh qua giọt bắn đường hô hấp, nước tiểu hoặc chất nôn.
Một số chủng lưu hành tại Bangladesh và Ấn Độ có khả năng lây truyền từ người sang người cao hơn so với chủng tại Malaysia. Người bệnh có triệu chứng hô hấp như ho, khó thở có nguy cơ lây truyền cao hơn so với trường hợp chỉ biểu hiện viêm não.
Bệnh diễn tiến nhanh, tổn thương não và phổi nặng
Thời gian ủ bệnh thường từ 3–14 ngày, hiếm gặp có thể kéo dài tới 45 ngày. Bệnh khởi phát đột ngột với sốt cao, đau đầu dữ dội, đau cơ, đau họng, nôn và tiêu chảy. Giai đoạn toàn phát có thể xuất hiện chóng mặt, lú lẫn, mất định hướng, giảm ý thức, co giật. Người bệnh có thể nhanh chóng rơi vào hôn mê sâu chỉ trong 24–48 giờ.
Bệnh nhân cũng sẽ ho, khó thở, suy hô hấp tiến triển nhanh. Đặc biệt là suy đa tạng như suy thận, suy tim, xuất huyết tiêu hóa, nhiễm trùng huyết.
Tỷ lệ tử vong dao động từ 40–75%. Một số trường hợp sống sót có thể bị viêm não tái phát nhiều tháng hoặc nhiều năm sau. Khoảng 20% người khỏi bệnh để lại di chứng thần kinh kéo dài như thay đổi tính cách, trầm cảm, mệt mỏi dai dẳng.
Chẩn đoán dựa vào xét nghiệm sinh học phân tử
Ca bệnh nghi ngờ là người có yếu tố dịch tễ trong vòng 14 ngày kèm triệu chứng sốt và rối loạn thần kinh hoặc hô hấp. Chẩn đoán xác định dựa vào phát hiện RNA của virus bằng kỹ thuật Real-time RT-PCR hoặc giải trình tự gen từ mẫu dịch hô hấp, máu, nước tiểu hoặc dịch não tủy. Xét nghiệm huyết thanh học (ELISA) có thể phát hiện kháng thể IgM trong 5 ngày đầu và IgG sau 2–4 tuần.
Phân lập virus chỉ được thực hiện tại phòng thí nghiệm an toàn sinh học cấp độ 4 (BSL-4). Hình ảnh cộng hưởng từ não có thể ghi nhận tổn thương chất trắng dưới vỏ. X-quang ngực thường cho thấy hình ảnh viêm phổi kẽ hoặc đông đặc phổi, đặc biệt ở bệnh nhân suy hô hấp cấp.
Chưa có thuốc đặc trị và chưa có vaccine
Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu cũng như vaccine phòng bệnh. Điều trị chủ yếu là cách ly nghiêm ngặt và kiểm soát nhiễm khuẩn. Hạ sốt bằng paracetamol (không dùng NSAID do nguy cơ chảy máu và hội chứng Reye). Hỗ trợ hô hấp, thở máy khi cần. Kiểm soát co giật và tăng áp lực nội sọ. Cân bằng dịch, điện giải và điều trị biến chứng đa cơ quan. Kháng sinh chỉ dùng khi có bằng chứng nhiễm khuẩn thứ phát.
Hiện, Việt Nam chưa ghi nhận ca mắc nào, song Bộ Y tế cho hay dịp Tết Nguyên đán và mùa lễ hội đang đến gần, là thời điểm nhu cầu đi lại và giao thương quốc tế của người dân gia tăng, tiềm ẩn nguy cơ xâm nhập và lây lan dịch bệnh. Giới chuyên môn khuyến cáo tăng cường giám sát dịch tễ, phát hiện sớm ca bệnh nghi ngờ, kiểm soát chặt chẽ lây nhiễm trong bệnh viện và hạn chế tiếp xúc với nguồn động vật có nguy cơ.
