Bao giờ lãi vay giảm?
Gần 30 ngân hàng thực hiện giảm lãi suất tiết kiệm, nhưng điều thị trường quan tâm hơn là bao giờ lãi vay mới giảm?
Sáng nay báo Thanh niên có đăng tải bài viết với tiêu đề: "Bao giờ lãi vay giảm?" với nội dung như sau:
Lãi suất cho vay tăng từng tuần
Ông Trần Thanh Phong, Giám đốc Công ty Thiên Bút kinh doanh thực phẩm, cho biết từ đầu năm đến nay, lãi suất vay ngân hàng (NH) tăng liên tục. Có những khoản vay đầu năm chỉ ở mức 5,5%/năm nhưng sau đó điều chỉnh lên 7,5%/năm và nay có những khoản lên đến 9,1 - 10%/năm. "Từ trước nay chúng tôi chủ yếu vay ngắn hạn 6 tháng, có tài sản thế chấp là bất động sản. Nhưng không những lãi vay tăng lên mà hạn mức tín dụng cũng được điều chỉnh giảm xuống. Chẳng hạn, trước đây NH cho vay 70 - 80% tài sản thế chấp nhưng nay chỉ vào khoảng 50%. Dòng tiền NH giải ngân không mạnh, có những thời điểm nhà băng báo bị hết room nên có khi phải chờ. Doanh nghiệp được cấp hạn mức tín dụng khoảng 80 tỉ đồng nhưng nay cũng không dám dùng hết số này", ông Phong chia sẻ và cho hay chi phí tài chính hiện nay tăng gấp đôi so với đầu năm, chưa kể chi phí vận chuyển, lưu kho cũng gia tăng.

Lãi suất tiết kiệm đi xuống nhưng lãi vay chưa giảm
ẢNH: NGỌC THẮNG
Ở chiều ngược lại, mãi lực tiêu thụ trên thị trường lại giảm khi hàng quán, bếp ăn đóng cửa nhiều. Trước đây kho hàng chứa khoảng 10 tấn phục vụ hơn 50 khách hàng đông đúc nhưng nay lại vắng vẻ. Các doanh nghiệp thực phẩm phải hạ giá bán để thu hồi vốn nhanh chứ càng chậm càng phải trả lãi NH tăng lên. "Mấy nay NH tuyên bố giảm lãi suất tiết kiệm nhưng các khoản vay hiện nay chưa nhận được sự điều chỉnh đi xuống. Trong khi trước đây chưa đến hạn điều chỉnh lãi vay nhưng NH cũng có thông báo tăng lên", ông Phong nói.
Sản xuất kinh doanh lâu năm trong lĩnh vực gỗ dăm, bà N.C (giám đốc một công ty có trụ sở tại TP.HCM) kể doanh nghiệp mới giải ngân một khoản trong hạn mức tín dụng vay được cấp với lãi suất lên 8,2%/năm vào đầu tháng 4. Chỉ trong vòng một tháng qua, lãi vay NH cứ liên tục tăng lên. Cụ thể, đầu tháng 3, lãi vay ở mức 7,2%/năm, cuối tháng lên 7,6%/năm và bước qua tháng 4 là 8,2%/năm. "Chỉ trong vòng 1 tháng, lãi suất vay NH tăng 1%/năm. Doanh nghiệp xuất khẩu nên mới có mức lãi suất vay như vậy vì khi có nguồn USD chúng tôi cũng thực hiện bán lại cho NH, cũng như sử dụng những dịch vụ từ NH cung cấp. So với các doanh nghiệp khác thì lãi vay của doanh nghiệp cho sản xuất kinh doanh thấp nhưng việc tăng nhanh như vậy ngoài sức tính toán của doanh nghiệp", bà C. thở dài và nói thêm lãi vay lúc tăng thì nhanh nhưng xuống luôn chậm.
Thực tế, sau khi đồng thuận giảm lãi suất tiết kiệm, cuộc đua tăng lãi suất huy động vốn kéo dài từ cuối năm ngoái đến nay đã dần hạ nhiệt. Trong 4 ngày trở lại đây, các NH đồng loạt giảm lãi suất huy động xuống khoảng 0,5%/năm, có NH tuyên bố giảm lãi vay từ 1 - 3%/năm. Trước đó trong cuộc họp chiều 14.4, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết đã có 26 NH điều chỉnh giảm lãi suất huy động, phổ biến từ 0,1 - 0,5%/năm ở các kỳ hạn 6 tháng trở lên. Mặt bằng lãi suất huy động hạ nhiệt, góp phần giảm chi phí vốn đầu vào của NH, mở ra dư địa để các NH điều chỉnh giảm lãi suất cho vay nhưng người vay vẫn đang chờ các nhà băng thực hiện việc này.
Lãi vay còn chờ độ trễ...
Ông Nguyễn Thế Minh, Giám đốc Phân tích Khối Khách hàng cá nhân của Công ty Chứng Khoán Yuanta Việt Nam, cho rằng lãi vay hiện chưa thể giảm ngay vì chi phí vốn các NH vừa qua huy động cao. Dù các NH bắt đầu giảm nhẹ lãi suất huy động gần đây thì cũng sẽ mất thời gian để cân đối lại chi phí vốn đi xuống. "Trước khi các NH đồng thuận giảm lãi suất, trên thị trường xuất hiện lãi tiết kiệm từ 8 - 9%/năm, nên muốn kéo mặt bằng lãi vay xuống thấp hơn thì lãi huy động tầm 7% cũng sẽ mất khoảng 2 tháng. Một vấn đề khác đặt ra là tốc độ cho vay hiện nay tăng nhanh hơn huy động. Lãi suất tiết kiệm thấp sẽ không hút được vốn vào NH mà chuyển qua các kênh đầu tư khác, chẳng hạn như vàng. Do vậy khi lãi suất tiết kiệm đi xuống, các NH cần tính đến huy động nguồn vốn khác qua các kênh giấy tờ có giá như trái phiếu để ổn định nguồn vốn nhằm giảm lãi vay", ông Minh nói.
Bước qua quý 2, hạn mức tăng trưởng tín dụng được nới ra, đồng nghĩa nhu cầu vốn tăng lên. Trong quý 1, NHNN yêu cầu hạn mức tăng trưởng tín dụng NH không quá 25% tổng hạn mức tín dụng. Một số NH cho vay nhanh thì đến tháng 2 đã chạm trần được cấp, trong khi đó vốn huy động thì tăng chậm. Đây cũng là nguyên nhân khiến lãi vay tăng nhanh trong quý 1. Báo cáo quý 1 của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam phản ánh bức tranh thanh khoản hệ thống NH chuyển từ trạng thái dư thừa dịp đầu năm sang căng thẳng cục bộ vào cuối quý 1.
Trên thị trường liên NH, sau khi giảm về mức 3,7%/năm giữa tháng 3, lãi suất qua đêm đã tăng mạnh trở lại, chạm mức 9,3% vào ngày 30.3 dưới áp lực hút ròng của NHNN và nhu cầu tín dụng tăng tốc cuối quý. Các NH tăng lãi suất huy động từ 0,1 - 1,4%/năm ở các kỳ hạn trên 6 tháng. Lãi suất huy động 12 tháng trung bình toàn hệ thống hiện đạt mức 8,07%/năm. Trên thực tế, một số NH đang huy động với mức lãi suất thỏa thuận lên tới 9%/năm cho các khoản tiền gửi lớn. Nguyên nhân chính là do tín dụng bắt đầu phục hồi nhanh hơn tốc độ huy động vốn, buộc các NH phải tăng cường huy động để đảm bảo các tỷ lệ an toàn thanh khoản và chuẩn bị vốn cho mùa kinh doanh sôi động quý 2. Lãi cho vay bình quân của NH thương mại trong nước đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 7,1% - 9,4%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 3,8%/năm, thấp hơn mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa theo quy định của NHNN 4%/năm.
Trong cuộc họp chiều 14.4, ông Phạm Thanh Hà, Phó thống đốc NHNN, thông tin tính đến ngày 31.3, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 19,18 triệu tỉ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025. NHNN dự kiến tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 15%, có điều chỉnh tăng, giảm phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế, đảm bảo kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và an toàn hệ thống các NH. NHNN tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác nhằm kiên định ưu tiên mục tiêu kiểm soát lạm phát năm 2026 bình quân khoảng 4,5%, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Rủi ro khách hàng tăng nhẹ
Theo kết quả khảo sát của NHNN, dự báo huy động vốn trong quý 2/2026 sẽ tăng khoảng 3,9%; tín dụng tăng 4,8%. Cả năm 2026, huy động vốn kỳ vọng đạt 15,8% (mức cao nhất tính từ năm 2020) và tín dụng đạt 16%. Về khía cạnh rủi ro, các NH đánh giá mặt bằng rủi ro tổng thể của khách hàng có biểu hiện đảo chiều tăng nhẹ trở lại ở tất cả các nhóm khách hàng. Nhóm có thể gia tăng rủi ro nhất là các công ty cổ phần, công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhỏ và vừa. Mặc dù tỷ lệ nợ xấu được kỳ vọng giảm nhẹ trong nửa đầu năm, nhưng áp lực nợ xấu cả năm 2026 được dự báo có thể gia tăng do rủi ro khách hàng tăng nhẹ trở lại.
Tiếp đó Trên Trang 24h.com cũng đăng tải bài viết: "Thông tin mới nhất về giảm lãi suất ngân hàng" với nội dung như sau:
Đồng ý Chia sẻ Ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước - cho biết, từ cuộc họp ngày 9/4 đến nay, có khoảng 26 ngân hàng đã giảm lãi suất tiền gửi với mức điều chỉnh 0,1-0,5%/năm, chủ yếu là các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Việc giảm lãi suất để hỗ trợ doanh nghiệp là cần thiết nhưng phải đi kèm với kiểm soát rủi ro lạm phát. Kiểm soát chặt tốc độ tăng trưởng tín dụng
Tại cuộc họp báo quý I chiều 14/4, ông Phạm Thanh Hà - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước - cho biết, tính đến ngày 31/3, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 19,18 triệu tỷ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025.
Trong năm nay, Ngân hàng Nhà nước dự kiến tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 15%; có điều chỉnh tăng, giảm phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế, đảm bảo kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.
Phó Thống đốc cho biết, ngày 31/12/2025, Ngân hàng Nhà nước đã có văn bản gửi các tổ chức tín dụng thông báo công khai, minh bạch về nguyên tắc giao tăng trưởng tín dụng năm 2026 để các tổ chức tín dụng chủ động triển khai thực hiện.

Ông Phạm Thanh Hà - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước cũng yêu cầu các tổ chức tín dụng kiểm soát chặt chẽ tốc độ tăng trưởng tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, lĩnh vực bất động sản trong năm 2026 nhằm hướng dòng vốn tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, đồng thời đảm bảo ổn định thanh khoản thị trường tiền tệ và an toàn hoạt động hệ thống các tổ chức tín dụng.
Về điều hành lãi suất, trong các tháng đầu năm, Phó Thống đốc cho hay, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành, nhằm tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng Nhà nước với chi phí thấp để góp phần hỗ trợ nền kinh tế.
Ngân hàng Nhà nước cũng đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiếp tục công bố thông tin lãi suất cho vay trên trang thông tin điện tử của ngân hàng, nhằm cung cấp thông tin cho khách hàng tham khảo khi tiếp cận vốn vay.
26 ngân hàng đã giảm lãi suất
Cũng tại họp báo, ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ - cho biết, trong quý I thị trường lãi suất có nhiều biến động và Ngân hàng Nhà nước đã áp dụng nhiều biện pháp để bình ổn mặt bằng lãi suất.
"Ngay sau cuộc họp ngày 9/4 với tân Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại đã đồng thuận giảm mặt bằng lãi suất và đến nay có khoảng 26 ngân hàng đã điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi, với mức giảm khoảng 0,1 - 0,5%/năm, chủ yếu là các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Từ đó có cơ sở giảm lãi suất cho vay hỗ trợ tăng trưởng kinh tế", ông Quang nói.

Ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước.
Tuy nhiên, ông Quang cũng nhấn mạnh, việc điều hành trong năm nay có nhiều điểm mới, đặc biệt là ở công cụ tín dụng. Dù định hướng tăng trưởng tín dụng khoảng 15%, nhưng sẽ không cứng nhắc như nhiều năm trước.
“Năm nay, tín dụng có thể tăng hoặc giảm tùy theo diễn biến thực tế, nhất là áp lực lạm phát. Đây là điểm mới trong điều hành, nhằm đảm bảo cân đối giữa tăng trưởng và ổn định”, ông Quang nói.
Trong trường hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ chủ động điều tiết quy mô tín dụng để kiểm soát lạm phát, thay vì chỉ tập trung mở rộng như trước đây. Điều này phản ánh sự thận trọng hơn trong bối cảnh tỷ lệ tín dụng trên GDP của Việt Nam đã ở mức cao, tiềm ẩn rủi ro đối với an toàn hệ thống tài chính.
Đánh giá về bối cảnh chung, ông Quang cho rằng năm nay sẽ tiếp tục đối mặt với nhiều yếu tố bất định từ bên ngoài, như xung đột địa chính trị, biến động chuỗi cung ứng và áp lực lạm phát toàn cầu. Những yếu tố này có thể tác động mạnh đến nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam.
Tuy vậy, lãnh đạo Vụ Chính sách tiền tệ khẳng định, chính sách tiền tệ vẫn còn dư địa để điều hành linh hoạt. “Trong khó khăn, chúng ta vẫn có cơ sở để đạt được các mục tiêu đề ra, vừa kiểm soát lạm phát, vừa hỗ trợ tăng trưởng”, ông Quang nhấn mạnh.
Theo ông Quang, vấn đề lớn nhất hiện nay là cân bằng giữa hai mục tiêu này. Việc giảm lãi suất để hỗ trợ doanh nghiệp là cần thiết, nhưng phải đi kèm với kiểm soát rủi ro lạm phát và đảm bảo an toàn hệ thống.
“Chúng tôi sẽ tiếp tục điều hành chủ động, linh hoạt, phối hợp đồng bộ các công cụ để đạt được mục tiêu kép của Chính phủ”, ông Quang khẳng định.
