Quy định mới về kê khai tài sản, thu nhập của người giữ chức vụ

Nghị định 164/2026/NĐ-CP được ban hành ngày 15/5/2026 về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức đơn vị. Trong đó, Nghị định quy định những loại tài sản, thu nhập phải kê khai từ ngày 1/7/2026.

Từ ngày 1/7/2026, quy định mới về kê khai tài sản, thu nhập theo Nghị định 164/2026/NĐ-CP sẽ chính thức được áp dụng. Đáng chú ý, một số đối tượng có nghĩa vụ kê khai sẽ phải kê khai cả tài khoản ngân hàng, sổ tiết kiệm và nhiều loại tài sản khác khi giá trị đạt ngưỡng theo quy định.

Theo Điều 10 Nghị định 164/2026/NĐ-CP, có 3 nhóm đối tượng thuộc diện phải thực hiện kê khai tài sản, thu nhập hằng năm theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 36 của Luật Phòng, chống tham nhũng.

Nhóm thứ nhất là những người giữ chức vụ từ Trưởng phòng và tương đương trở lên, có phụ cấp chức vụ từ 0,25 trở lên đang công tác tại các cơ quan nhà nước. Đối với doanh nghiệp nhà nước, đối tượng áp dụng là Trưởng phòng và tương đương trở lên làm việc tại các vị trí trực tiếp phụ trách công tác tổ chức cán bộ, quản lý tài chính công, tài sản công, đầu tư công hoặc trực tiếp tiếp xúc, giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân.

Nhóm thứ hai là người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Nhóm thứ ba gồm những người thuộc danh mục phải kê khai do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ hoặc Chủ tịch UBND cấp tỉnh ban hành theo thẩm quyền được quy định tại khoản 1 Điều 10 Nghị định 164/2026/NĐ-CP.

Một trong những nội dung được nhiều người quan tâm là việc kê khai tài khoản ngân hàng và sổ tiết kiệm.

Theo khoản 1 Điều 9 Nghị định 164/2026/NĐ-CP, người có nghĩa vụ kê khai phải kê khai tài sản, thu nhập của bản thân, vợ hoặc chồng và con chưa thành niên đối với các nhóm tài sản sau:

  • Quyền sử dụng đất;
  • Nhà ở, công trình xây dựng;
  • Các tài sản khác gắn liền với đất;
  • Vàng, kim cương, bạch kim và các loại kim khí quý, đá quý khác có tổng giá trị từ 150 triệu đồng trở lên đối với từng loại;
  • Tiền bằng đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ, bao gồm tiền mặt, tiền cho vay, tiền trả trước và tiền gửi tại các tổ chức trong nước hoặc tổ chức nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, có tổng giá trị quy đổi từ 150 triệu đồng trở lên;
  • Cổ phiếu, trái phiếu, phần vốn góp và các loại giấy tờ có giá khác có tổng giá trị từ 150 triệu đồng trở lên;
  • Tài sản số và các loại tài sản khác có giá trị từ 150 triệu đồng trở lên;
  • Các khoản nợ từ 150 triệu đồng trở lên;
  • Tài sản ở nước ngoài;
  • Tài khoản ở nước ngoài;
  • Tổng thu nhập phát sinh giữa hai lần kê khai.

Ngoài ra, theo mẫu bản kê khai được ban hành kèm Nghị định 164/2026/NĐ-CP, đối với tiền gửi tại ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng trong nước, người kê khai phải cung cấp thông tin về số tài khoản hoặc số sổ tiết kiệm liên quan.

Tuy nhiên, việc kê khai tài khoản ngân hàng và sổ tiết kiệm không áp dụng đối với tất cả mọi người. Quy định này chỉ áp dụng cho những cá nhân thuộc diện có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập theo pháp luật và chỉ phải kê khai khi tổng giá trị tiền gửi quy đổi đạt từ 150 triệu đồng trở lên.

Như vậy, từ ngày 1/7/2026, các cán bộ, công chức, viên chức và các đối tượng thuộc diện kê khai theo Nghị định 164/2026/NĐ-CP sẽ phải kê khai thông tin về tài khoản ngân hàng, sổ tiết kiệm nếu tổng số dư thuộc diện phải kê khai đạt ngưỡng 150 triệu đồng trở lên theo quy định.

Theo https://baochinhphu.vn/quy-dinh-moi-ve-ke-khai-tai-san-thu-nhap-cua-nguoi-giu-chuc-vu-10226052115394801.htm