Quy trình tiêm thuốc độc đối với người bị thi hành án tử hình
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 203/2026/NĐ-CP ngày 11/6/2026 quy định về thi hành án tử hình bằng tiêm thuốc độc.
Theo quy định mới, việc thi hành án tuhinh bằng hình thức tiêm thuốc độc được thực hiện theo quy trình chặt chẽ, bao gồm các bước chuẩn bị, kiểm tra thuốc và tiến hành tiêm theo trình tự cụ thể.
Trước khi thi hành án, Hội đồng thi hành án tuhinh có trách nhiệm kiểm tra, mở niêm phong thuốc và lập biên bản theo quy định. Người bị thi hành án được cố định trên giường ở tư thế nằm ngửa nhằm bảo đảm quá trình thực hiện diễn ra đúng quy trình kỹ thuật.
Cán bộ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ sẽ tiếp nhận 3 liều thuốc từ Hội đồng thi hành án, trong đó có 2 liều dự phòng. Sau đó, tiến hành xác định tĩnh mạch của người bị thi hành án. Trường hợp gặp khó khăn trong việc xác định tĩnh mạch, cán bộ y tế sẽ được yêu cầu hỗ trợ.
Quy trình tiêm được thực hiện theo 3 bước liên tiếp. Đầu tiên là sử dụng thuốc gây mất tri giác. Sau khi tiêm, cán bộ chuyên môn sẽ kiểm tra tình trạng của người bị thi hành án và tiếp tục thực hiện nếu chưa đạt yêu cầu. Tiếp theo là thuốc tác động đến hệ vận động và cuối cùng là thuốc làm ngừng hoạt động của tim.

Ngoài quy trình thực hiện, nghị định cũng quy định về thuốc sử dụng, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ thi hành án, chế độ đối với lực lượng tham gia thực hiện nhiệm vụ, cùng các khoản chi phí liên quan đến việc mai táng người đã bị thi hành án tuhinh.
Điều 77. Hình thức và trình tự thi hành án tuhinh
1. Thi hành án tuhinh được thực hiện bằng tiêm thuốc độc. Quy trình thực hiện việc tiêm thuốc độc do Chính phủ quy định.
2. Trước khi thi hành án, Hội đồng thi hành án tuhinh phải kiểm tra danh bản, chỉ bản, hồ sơ lý lịch của người chấp hành án tuhinh; trường hợp người chấp hành án là nữ thì Hội đồng phải kiểm tra các tài liệu liên quan đến điều kiện không thi hành án tuhinh theo quy định của Bộ Luật Hình sự.
3. Trước khi bị đưa ra thi hành án tuhinh, người chấp hành án được ăn, uống, viết thư, ghi âm lời nói gửi lại gia đình của người chấp hành án.
4. Trình tự thi hành án tuhinh được thực hiện như sau:
a) Căn cứ quyết định thi hành án tuhinh và yêu cầu của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tuhinh, Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp hoặc Vệ binh hỗ trợ tư pháp thực hiện áp giải người chấp hành án đến nơi làm việc của Hội đồng thi hành án tuhinh;
b) Thực hiện yêu cầu của Hội đồng thi hành án tuhinh, cán bộ chuyên môn thuộc Công an nhân dân hoặc Quân đội nhân dân tiến hành lăn tay, kiểm tra danh bản, chỉ bản, đối chiếu với hồ sơ, tài liệu có liên quan; chụp ảnh, ghi hình quá trình làm thủ tục lăn tay, kiểm tra và lập biên bản; báo cáo Hội đồng thi hành án tuhinh về kết quả kiểm tra;
c) Chủ tịch Hội đồng thi hành án tuhinh công bố quyết định thi hành án, quyết định không kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và quyết định không kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao không chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, văn bản thông báo của cơ quan có thẩm quyền về việc không có quyết định ân giảm hình phạt tuhinh.
Ngay sau khi Chủ tịch Hội đồng thi hành án công bố các quyết định, Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp hoặc Vệ binh hỗ trợ tư pháp có nhiệm vụ giao các quyết định trên cho người chấp hành án để người đó tự đọc. Trường hợp người chấp hành án không biết chữ, không biết tiếng Việt hoặc không tự mình đọc được thì Hội đồng thi hành án tuhinh chỉ định người đọc hoặc phiên dịch các quyết định trên cho người đó nghe. Quá trình công bố và đọc các quyết định phải được chụp ảnh, ghi hình, ghi âm và lưu vào hồ sơ thi hành án tuhinh;
d) Theo lệnh của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tuhinh, cán bộ chuyên môn do cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu chỉ định thực hiện việc thi hành án và báo cáo kết quả cho Chủ tịch Hội đồng;
d) Theo lệnh của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tuhinh, bác sĩ pháp y xác định tình trạng của người đã bị thi hành án tuhinh và báo cáo kết quả cho Hội đồng;
e) Hội đồng thi hành án tuhinh lập biên bản thi hành án; báo cáo về quá trình, kết quả thi hành án cho Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cơ quan quản lý thi hành án hình sự. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu làm thủ tục khai tử tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thi hành án;
g) Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm bảo quản tử thi, tổ chức mai táng, vẽ sơ đồ mộ người đã bị thi hành án. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi mai táng có nhiệm vụ phối hợp với cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu trong việc mai táng và quản lý mộ của người đã bị thi hành án;
h) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thông báo cho gia đình của người đã bị thi hành án biết, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 78 của Luật này.
