Chính phủ hỗ trợ 360.000 đồng/tháng tiền ăn trưa cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi (hưởng không quá 9 tháng/năm học) khi đáp ứng điều kiện gì theo Nghị định 277?
Theo Nghị định 277 hỗ trợ 360.000 đồng/tháng tiền ăn trưa cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi (hưởng không quá 9 tháng/năm học) khi thuộc trường hợp nào?
Ngày 20 tháng 4 năm 2026, chuyên trang Góc Nhìn Pháp Lý đăng tải bài viết với tiêu đề "Chính phủ hỗ trợ 360.000 đồng/tháng tiền ăn trưa cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi (hưởng không quá 9 tháng/năm học) khi đáp ứng điều kiện gì theo Nghị định 277?". Nội dung như sau:
Thư viện pháp luật cập nhật, theo quy định tại Điều 6 Nghị định 277/2025/NĐ-CP như sau:
Chính sách đối với trẻ em từ 3 đến 5 tuổi
1. Hỗ trợ ăn trưa cho trẻ em
a) Đối tượng
Trẻ em độ tuổi từ 3 đến 5 tuổi (không bao gồm trẻ em dân tộc thiểu số rất ít người theo quy định tại Nghị định số 57/2017/NĐ-CP ngày 09 tháng 5 năm 2017 của Chính phủ quy định chính sách ưu tiên tuyển sinh và hỗ trợ học tập đối với trẻ em từ 3 đến 5 tuổi, học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số rất ít người) thường trú tại xã, thôn đặc biệt khó khăn đang học tại cơ sở giáo dục mầm non công lập, các cơ sở giáo dục mầm non thuộc lực lượng vũ trang tại xã khu vực III, khu vực II, khu vực I, xã có thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo theo quy định của cơ quan có thẩm quyền;
Trẻ em từ 3 đến 5 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng được quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15 tháng 3 năm 2021 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội;
Trẻ em từ 3 đến 5 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo, cận nghèo đa chiều theo quy định của Chính phủ;
Trẻ em từ 3 đến 5 tuổi là con liệt sĩ, con Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, con thương binh, con người hưởng chính sách như thương binh, con bệnh binh, con đối tượng chính sách khác theo quy định tại Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng (nếu có);
Trẻ em từ 3 đến 5 tuổi khuyết tật học hòa nhập.
b) Nội dung chính sách
Mỗi trẻ em thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều này được hỗ trợ mỗi tháng là 360.000 đồng và được hưởng không quá 9 tháng/năm học.
....
Theo đó, hỗ trợ ăn trưa cho trẻ em mỗi tháng 360.000 đồng/ tháng (hưởng không quá 9 tháng/năm học) khi:
+ Trẻ em độ tuổi từ 3 đến 5 tuổi (không bao gồm trẻ em dân tộc thiểu số rất ít người theo quy định tại Nghị định 57/2017/NĐ-CP quy định chính sách ưu tiên tuyển sinh và hỗ trợ học tập đối với trẻ em từ 3 đến 5 tuổi, học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số rất ít người) thường trú tại xã, thôn đặc biệt khó khăn đang học tại cơ sở giáo dục mầm non công lập, các cơ sở giáo dục mầm non thuộc lực lượng vũ trang tại xã khu vực III, khu vực II, khu vực I, xã có thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo theo quy định của cơ quan có thẩm quyền;
+ Trẻ em từ 3 đến 5 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng được quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định 20/2021/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội;
+ Trẻ em từ 3 đến 5 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo, cận nghèo đa chiều theo quy định của Chính phủ;
+ Trẻ em từ 3 đến 5 tuổi là con liệt sĩ, con Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, con thương binh, con người hưởng chính sách như thương binh, con bệnh binh, con đối tượng chính sách khác theo quy định tại Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng (nếu có);
+ Trẻ em từ 3 đến 5 tuổi khuyết tật học hòa nhập.
|
Kinh phí thực hiện hỗ trợ tiền ăn trưa cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi lấy từ đâu? Căn cứ theo Điều 10 Nghị định 277/2025/NĐ-CP nguồn kinh phí thực hiện chính sách phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi được quy định như sau: - Đối với các chính sách hỗ trợ cho các đối tượng được hưởng theo Nghị định này do ngân sách địa phương đảm bảo. Ngân sách trung ương hỗ trợ đối với các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách. - Đối với các chính sách về đầu tư phát triển mạng lưới trường lớp thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư công, các chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục lồng ghép từ nguồn vốn của các chương trình mục tiêu quốc gia được cấp có thẩm quyền giao trong kế hoạch hàng năm của các bộ, ngành, địa phương theo phân cấp quản lý hiện hành. - Nguồn vốn xã hội hóa giáo dục và các nguồn vốn huy động hợp pháp khác. |
Trước đó, 22 tháng 10 năm 2025, báo VTC cũng đăng tải bài viết với tiêu đề "Trẻ mẫu giáo 3-5 tuổi vùng khó khăn được hỗ trợ tiền ăn trưa 360.000 đồng/tháng". Nội dung như sau:
Chính phủ ban hành Nghị định số 277/2025 quy định chi tiết thi hành Nghị quyết số 218/2025 của Quốc hội về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi.
Hỗ trợ tiền ăn trưa 360.000 đồng/tháng cho trẻ mẫu giáo 3-5 tuổi ở vùng khó khăn. (Ảnh minh họa)
Theo nghị định, lộ trình đến 2028, có từ 50% các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 3-5 tuổi.
Đến 2030, 100% các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 3-5 tuổi.
Nghị định quy định các chính sách hỗ trợ trẻ em 3-5 tuổi và đầu tư phát triển cơ sở vật chất, đội ngũ trường, lớp.
Về hỗ trợ ăn trưa, Chính phủ quy định mỗi trẻ em thuộc đối tượng được hỗ trợ là 360.000 đồng/tháng và được hưởng không quá 9 tháng/năm học.
Những đối tượng thuộc diện hỗ trợ gồm: Trẻ em độ tuổi 3-5 tuổi (không bao gồm trẻ em dân tộc thiểu số rất ít người) thường trú tại xã, thôn đặc biệt khó khăn đang học tại cơ sở giáo dục mầm non công lập, các cơ sở giáo dục mầm non thuộc lực lượng vũ trang tại xã khu vực III, khu vực II, khu vực I, xã có thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.
Trẻ em 3-5 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng; Trẻ em 3-5 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo, cận nghèo đa chiều; Trẻ em từ 3-5 tuổi là con liệt sỹ, con Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân, con thương binh, con người hưởng chính sách như thương binh, con bệnh binh, con đối tượng chính sách khác theo quy định tại Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng (nếu có); Trẻ em từ 3-5 tuổi khuyết tật học hòa nhập.
Về hỗ trợ chi phí học tập, nghị định nêu rõ, mỗi trẻ em thuộc đối tượng được hỗ trợ chi phí học tập 150.000 đồng/tháng và được hưởng không quá 9 tháng/năm học.
Đối tượng được hưởng hỗ trợ chi phí học tập gồm: Trẻ em 3-5 tuổi thuộc đối tượng được hỗ trợ ăn trưa;
Trẻ em 3-5 tuổi học tại các cơ sở giáo dục mầm non thuộc loại hình dân lập, tư thục đã được cơ quan có thẩm quyền cấp phép thành lập và hoạt động theo đúng quy định có cha hoặc mẹ hoặc người chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em hợp pháp là công nhân, người lao động đang làm việc tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất được doanh nghiệp ký hợp đồng lao động.
Cũng tại nghị định, Chính phủ yêu cầu tăng cường nguồn lực từ ngân sách trung ương và ngân sách địa phương đầu tư cơ sở vật chất.
Khuyến khích thu hút các nguồn lực của xã hội đầu tư cơ sở vật chất phát triển giáo dục mầm non. Đầu tư phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non bảo đảm đủ trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, đồ dùng, đồ chơi thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 3-5 tuổi. Nâng chuẩn cơ sở giáo dục mầm non theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, đáp ứng yêu cầu thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 3-5 tuổi.
Bên cạnh đó, các địa phương cần ưu tiên dành quỹ đất sạch, cho phép chuyển đổi linh hoạt mục đích sử dụng đất sang đất xây dựng cơ sở giáo dục mầm non; tập trung giải phóng mặt bằng, giao đất sạch cho các dự án giáo dục mầm non. Không thu tiền sử dụng đất, giảm tiền thuê đất, tiền thuế đất đối với các cơ sở giáo dục mầm non.
Không áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cơ sở giáo dục mầm non công lập, cơ sở giáo dục mầm non tư thục hoạt động không vì lợi nhuận. Ưu tiên dành trụ sở cơ quan nhà nước dôi dư sau sắp xếp cho các cơ sở giáo dục mầm non; cho phép áp dụng hình thức cho thuê công trình thuộc sở hữu nhà nước đối với cơ sở giáo dục mầm non tư thục.
Chính phủ lưu ý ưu tiên đầu tư kinh phí của trung ương và địa phương từ các chương trình, dự án bảo đảm đến năm 2030 có 100% các cơ sở giáo dục mầm non công lập, cơ sở giáo dục mầm non thuộc lực lượng vũ trang ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, biên giới, hải đảo...
Nghị định yêu cầu bảo đảm bố trí đủ số lượng giáo viên mầm non mức tối đa theo định mức quy định; bảo đảm chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên thực hiện nhiệm vụ phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 3-5 tuổi trong cơ sở giáo dục mầm non.
Giáo viên mầm non được tuyển dụng mới từ năm học 2025 - 2026 thực hiện nhiệm vụ phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 3-5 tuổi phải cam kết công tác tại cơ sở giáo dục mầm non công lập được tuyển dụng ít nhất 5 năm, được hưởng chính sách hỗ trợ tối thiểu 1 năm tiền lương cơ sở (hoặc mức tương đương khi có thay đổi chính sách lương).
Với hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, giáo viên và nhân viên tại cơ sở giáo dục mầm non công lập tham gia thực hiện nhiệm vụ phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 3-5 tuổi được hưởng kinh phí hỗ trợ 960.000 đồng/tháng (kinh phí hỗ trợ không dùng để tính đóng, hưởng chế độ bảo hiểm xã hội).
