Ca mắc viêm não mô cầu tăng gấp hơn 2 lần, nhiều trường hợp tử vong: Bộ Y tế tiếp tục cảnh báo khẩn

Trước việc hơn 4 tháng đầu năm số ca mắc viêm não mô cầu tăng gấp hơn 2 lần so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó 4 trường hợp đã tử vong, nhóm tuổi mắc tập trung ở trẻ em dưới 15 tuổi chiếm tới 46%, Bộ Y tế đã ra cảnh báo khẩn.

Báo Dân Việt đưa tin với tiêu đề: "Ca mắc viêm não mô cầu tăng gấp hơn 2 lần, nhiều trường hợp tử vong: Bộ Y tế tiếp tục cảnh báo khẩn", nội dung được đăng tải như sau:

Ngày 13/4, Bộ Y tế cho biết, theo báo cáo giám sát từ tuần 1 đến tuần 14/2026, cả nước ghi nhận 24 trường hợp mắc viêm não mô cầu, trong đó có 4 trường hợp đã tử vong; nhóm tuổi mắc tập trung ở trẻ em dưới 15 tuổi chiếm tới 46% tổng số trường hợp mắc.

Bệnh do não mô cầu là một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, do vi khuẩn não mô cầu Neisseria meningitidis, lây truyền chủ yếu do tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết mũi, hầu, họng của người bệnh hoặc người lành mang trùng.

Bệnh nhân mắc viêm não mô cầu cách ly điều trị tại cơ sở y tế. Ảnh minh họa: BVCC

Đây là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, có thể diễn biến nhanh, gây ra các thể bệnh nặng như viêm màng não mủ và nhiễm khuẩn huyết và có thể để lại hậu quả nghiêm trọng như điếc, liệt, chậm phát triển tinh thần, thậm chí tử vong nếu không được phát hiện, điều trị kịp thời.

Theo Bộ Y tế, các trường hợp mắc được ghi nhận rải rác trong cộng đồng, chưa hình thành ổ dịch tập trung. Tuy nhiên số trường hợp mắc có xu hướng gia tăng trong thời gian gần đây và cao hơn so với cùng kỳ năm 2025 (14 trường hợp). Tình hình trên cho thấy nguy cơ bệnh tiếp tục xuất hiện, ảnh hưởng đến sức khỏe người dân, nhất là trẻ em.

Để chủ động phòng, chống bệnh do não mô cầu, Bộ Y tế đề nghị người dân nâng cao ý thức phòng bệnh, chủ động thực hiện đầy đủ các biện pháp bảo vệ sức khỏe cho bản thân, gia đình và cộng đồng:

Cụ thể, người dân thực hiện tốt vệ sinh cá nhân, thường xuyên rửa tay bằng xà phòng và nước sạch; súc miệng và họng bằng các dung dịch sát khuẩn mũi họng; đeo khẩu trang tại nơi công cộng và trên các phương tiện giao thông công cộng; hạn chế tiếp xúc với người mắc bệnh.

Thứ 2, thực hiện tốt vệ sinh môi trường, tăng cường thông khí tại nơi ở, học tập và làm việc; lau sạch bề mặt, dụng cụ tiếp xúc hàng ngày (tay nắm cửa, mặt bàn, đồ chơi...) bằng xà phòng hoặc chất tẩy rửa thông thường.

Thứ 3, ăn uống đủ chất, rèn luyện thân thể để nâng cao sức đề kháng. Khi có các dấu hiệu nghi ngờ mắc bệnh như sốt cao, đau đầu, buồn nôn, cổ cứng, nổi ban xuất huyết, người dân cần đến ngay cơ sở y tế gần nhất để khám và điều trị kịp thời. Việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời có ý nghĩa quan trọng trong hạn chế biến chứng nặng và tử vong do bệnh.

Trao đổi với PV Dân Việt, PGS.TS Trần Đắc Phu, nguyên Cục trưởng Cục Y tế dự phòng (nay là Cục Phòng bệnh - Bộ Y tế) cho biết, con người được coi là ổ chứa vi khuẩn não mô cầu trong tự nhiên, do vậy nguồn lây bệnh chủ yếu là bệnh nhân và người lành mang vi khuẩn.

Trong cộng đồng, tỉ lệ người lành mang vi khuẩn không có triệu chứng lâm sàng (người lành mang trùng) từ 5-25%, tỉ lệ này thậm chí còn cao hơn ở khu vực ổ dịch (30-40%).

Bệnh thường để lại di chứng nặng nề như chậm phát triển tinh thần, điếc, liệt với tỉ lệ 10%-20%. Tỉ lệ tử vong có thể từ 10%-15%. Đáng lo ngại là trong cộng đồng, tỉ lệ người mang vi khuẩn không có triệu chứng lâm sàng (còn gọi là người lành mang trùng) ở mũi, hầu, họng từ 5%-25%.

“Đây là bệnh lý nguy hiểm, dễ lây lan do vi khuẩn não mô cầu nằm ở dịch mũi họng. Chỉ cần dính chút dịch mũi họng của người phát bệnh là có thể nhiễm theo. Do vậy, khi có trường hợp mắc bệnh não mô cầu cần nhanh chóng cách ly người bệnh. Khi tiếp xúc, hai bên phải đeo khẩu trang, không dùng chung các dụng cụ sinh hoạt, kể cả những vật dụng mà người bệnh đã cầm nắm”, PGS.TS Trần Đắc Phu khuyến cáo.

Báo Thanh Niên Việt đưa tin với tiêu đề: "Loại nước "nuôi tế bào u:ng th:ư", uống mỗi ngày có thể tăng ít nhất 73% nguy cơ: Nhiều người Việt hay dùng", nội dung được đăng tải như sau:

Đồ uống có đường, từ nước ngọt có gas, trà sữa, nước trái cây đóng chai... vốn là “khoái khẩu” của không ít người. Tuy nhiên, đằng sau vị ngọt dễ gây nghiện là những rủi ro sức khỏe không thể xem nhẹ.

Nhóm nghiên cứu từ Đại học Nam Carolina, Mỹ đã theo dõi 90.504 phụ nữ trong độ tuổi 50-79 suốt gần 18 năm. Khoảng 7% số người tham gia cho biết họ uống ít nhất một lon đồ uống có đường 360ml mỗi ngày. Trong thời gian theo dõi, có 205 trường hợp được chẩn đoán u:ng th:ư gan.

Kết quả cho thấy, so với những người không uống, nhóm uống một hoặc nhiều loại đồ uống có đường mỗi ngày có nguy cơ u:ng th:ư gan cao hơn 78%. Nếu tính riêng những người uống ít nhất một khẩu phần mỗi ngày, nguy cơ tăng 73%.

Các nhà khoa học nhận định, việc tiêu thụ nhiều đường làm tăng tỷ lệ béo phì và đái tháo đường type 2, vốn là những yếu tố nguy cơ quan trọng của u:ng th:ư gan. Đường còn góp phần gây kháng insulin và tích tụ mỡ trong gan, hai tình trạng có thể dẫn đến gan nhiễm mỡ và tổn thương gan mạn tính.

Một số chuyên gia cho rằng, nếu kết quả này tiếp tục được xác nhận, việc cắt giảm đồ uống có đường có thể trở thành chiến lược y tế công cộng nhằm giảm gánh nặng u:ng th:ư gan. Thay thế bằng nước lọc, cà phê hoặc trà không đường được xem là lựa chọn an toàn hơn.

Chỉ 100ml mỗi ngày cũng làm tăng nguy cơ u:ng th:ư

Không chỉ u:ng th:ư gan, một nghiên cứu đăng trên tạp chí y khoa BMJ của nhóm khoa học Đại học Paris, Pháp cũng cho thấy mối liên hệ giữa đồ uống có đường và nguy cơ u:ng th:ư nói chung.

Nghiên cứu theo dõi hơn 101.000 người trưởng thành trong đoàn hệ NutriNet Santé. Kết quả cho thấy, cứ tăng thêm 100ml đồ uống có đường mỗi ngày, nguy cơ u:ng th:ư tổng thể tăng 18%, riêng u:ng th:ư vú tăng 22%.

Ngay cả nước ép trái cây 100% cũng không hoàn toàn “vô can”. Lượng tiêu thụ tăng lên có liên quan đến nguy cơ u:ng th:ư tổng thể cao hơn 12%. Các loại đồ uống có đường khác ngoài nước ép nguyên chất làm tăng nguy cơ u:ng th:ư tổng thể 19% và u:ng th:ư vú 23%.

Phân tích sâu hơn cho thấy lượng đường và năng lượng từ các loại đồ uống này đều có mối liên hệ thuận với tỷ lệ mắc u:ng th:ư.

Đường không chỉ gây béo mà còn ảnh hưởng toàn thân

Tạp chí Nature từng có bài viết phân tích tác hại của đường đối với sức khỏe cộng đồng, cho rằng nguy cơ từ đường không hề thua kém rượu bia hay thuốc lá nếu tiêu thụ quá mức.

Việc nạp quá nhiều đường có thể dẫn đến hội chứng chuyển hóa, bao gồm tăng huyết áp do acid uric cao, tăng triglycerid do gan tổng hợp mỡ nhiều hơn, kháng insulin và cuối cùng là đái tháo đường. Đường dư thừa cũng làm gia tăng stress oxy hóa và có thể ảnh hưởng đến DNA, góp phần thúc đẩy quá trình lão hóa.

Ngoài ra, một số nghiên cứu chỉ ra rằng tiêu thụ quá nhiều đồ uống có đường có thể liên quan đến suy giảm chức năng nhận thức. Khi tình trạng kháng insulin xảy ra ở não, đặc biệt tại vùng hải mã, khả năng học tập và ghi nhớ có thể bị ảnh hưởng. Chưa kể, lượng đường cao còn làm tăng nguy cơ sâu răng do vi khuẩn trong miệng chuyển hóa đường thành acid phá hủy men răng.

Vì sao đường có thể liên quan đến u:ng th:ư?

Thứ nhất, tế bào u:ng th:ư có xu hướng tiêu thụ glucose nhiều hơn tế bào bình thường. Hiện tượng này được gọi là hiệu ứng Warburg, theo tên nhà sinh lý học Otto Warburg. Một số nghiên cứu cho thấy tế bào u:ng th:ư có thể sử dụng glucose với tốc độ cao gấp nhiều lần mô bình thường.

Thứ hai, tiêu thụ nhiều đường làm tăng tiết insulin. Insulin không chỉ là hormone điều hòa đường huyết mà còn có vai trò như một yếu tố tăng trưởng. Khi nồng độ insulin cao kéo dài, nó có thể tạo môi trường thuận lợi cho tế bào bất thường phát triển.

Thứ ba, béo phì và kháng insulin do tiêu thụ nhiều đường gây rối loạn nội tiết và suy giảm chức năng miễn dịch, từ đó làm tăng nguy cơ hình thành khối u. Khi khối u đã xuất hiện, chúng lại tiếp tục sử dụng glucose làm nguồn năng lượng chính để phát triển và di căn.

Cần nhìn nhận thế nào cho đúng?

Các nghiên cứu trên cho thấy mối liên hệ đáng lưu ý giữa đồ uống có đường và nguy cơ u:ng th:ư, đặc biệt là u:ng th:ư gan và u:ng th:ư vú. Tuy nhiên, đây chủ yếu là nghiên cứu quan sát, cho thấy sự liên quan chứ chưa khẳng định quan hệ nhân quả tuyệt đối.

Dù vậy, bằng chứng về tác hại của việc tiêu thụ quá nhiều đường đối với béo phì, đái tháo đường và gan nhiễm mỡ đã khá rõ ràng. Do đó, việc hạn chế đồ uống có đường vẫn là khuyến nghị hợp lý.

Ngoài nước ngọt, nhiều thực phẩm khác như sữa chua có đường, bánh kẹo, kem lạnh, bánh quy, ngũ cốc ăn liền hay một số món chế biến sẵn cũng chứa lượng đường cao. Kiểm soát tổng lượng đường nạp vào mỗi ngày, đọc kỹ nhãn thành phần và ưu tiên thực phẩm tự nhiên ít qua chế biến là những bước quan trọng để bảo vệ sức khỏe lâu dài.