Đã tiêm vắc xin bạch hầu từ nhỏ, giờ có cần tiêm nhắc lại? Nếu mắc bệnh có bị nhẹ hơn?

Hiện nay, khi bệnh bạch hầu có nguy cơ lây lan, nhiều người băn khoăn không biết liệu có cần tiêm nhắc lại hay không?

Ngày 9/7/2024, Tạp chí Người đưa tin đã đăng tải bài viết với tiêu đề: "Đã tiêm vắc xin bạch hầu từ nhỏ, giờ có cần tiêm nhắc lại? Nếu mắc bệnh có bị nhẹ hơn?". Nội dung cụ thể như sau:

Cách phòng ngừa tốt nhất bệnh bạch hầu là tiêm chủng vắc xin. Tại Việt Nam, vắc xin phòng bạch hầu được khuyến cáo tiêm ngừa cho tất cả trẻ nhỏ, 3 liều lúc trẻ được 2, 3, 4 tháng tuổi.

Theo BS. Vũ Thị Thuý Hà, BS Y học dự phòng, Trung tâm Tiêm chủng Hồng Ngọc, khi được tiêm vào cơ thể, vắc xin kích thích hệ miễn dịch phản ứng và sản xuất kháng thể chống lại vi khuẩn bạch hầu. Nếu người được tiêm vắc xin tiếp xúc với vi khuẩn bạch hầu sau đó, kháng thể sẽ ngăn chặn sự phát triển của vi khuẩn và giúp ngăn ngừa bệnh. Vắc xin bạch hầu có hiệu quả phòng bệnh đến hơn 90%.

"Tuy nhiên, với những đối tượng có sức đề kháng kém hay suy giảm miễn dịch thì vẫn có nguy cơ mắc bạch hầu khi tiếp xúc với nguồn bệnh. Theo thời gian, hiệu quả miễn dịch phòng bệnh đối với vi khuẩn bạch hầu sẽ suy giảm, do đó khả năng mắc bệnh bạch hầu vẫn còn nếu không được tiêm nhắc lại", BS. Thúy Hà nhấn mạnh.

Bệnh nhân bạch hầu (Ảnh: Mechanisms of Pathogenicity)

Như vậy, vắc xin bạch hầu chỉ tạo được miễn dịch để bảo vệ cơ thể trong một giai đoạn nhất định (duy trì trong vòng 10 năm và giảm dần theo thời gian). Sau đó, hiệu quả miễn dịch phòng bệnh đối với vi khuẩn bạch hầu sẽ suy giảm dần, khả năng mắc bệnh bạch hầu vẫn còn nếu không được tiêm nhắc lại. Vì thế dù không nhớ đã tiêm vắc xin bạch hầu hay chưa, hoặc tiêm đã lâu thì cũng đều nên chủng ngừa lại.

Thời điểm thích hợp để tiêm nhắc lại:

- Đối với trẻ em: nên tiêm nhắc lại vào lúc 18 tháng tuổi. Trẻ từ 4-6 tuổi có thể nhắc lại vắc xin 4 trong 1 phòng bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt.

- Đối với người lớn đã tiêm khi còn nhỏ: có thể tiêm nhắc lại ở độ tuổi 9-15 tuổi; người lớn, phụ nữ chuẩn bị mang thai, phụ nữ đang mang thai mỗi 10 năm/lần.

Đối với người chưa từng tiêm hoặc không rõ lịch sử tiêm chủng có thể đi tiêm ngay được luôn bất kì độ tuổi nào, với 3 mũi cơ bản: Mũi 1: lần đầu tiên tiêm; Mũi 2: cách mũi đầu tiên tối thiểu 1 tháng; Mũi 3: cách mũi thứ 2 tối thiểu 6 tháng; Sau đó, có tiêm nhắc lại mỗi 10 năm/lần.

Người dân có thể tiêm vắc xin bạch hầu ở các trung tâm tiêm chủng. Sau khi tiêm vắc xin phòng bạch hầu có thể xuất hiện một vài tác dụng phụ như sốt, sưng đỏ, đau tại vị trí tiêm và thường tự khỏi sau 1-2 ngày. Khi nhận thấy các triệu chứng bất thường của cơ thể như sốt cao không đáp ứng với thuốc hạ sốt, phát ban trên da, khó thở, tím tái, trẻ quấy khóc liên tục, bú kém, bỏ bú, li bì, hôn mê... cần đến ngay cơ sở y tế để thăm khám và xử trí kịp thời.

Chống chỉ định tiêm vắc xin phòng bạch hầu gần như không có, chỉ chống chỉ định nếu có phản ứng nặng với vắc xin cùng thành phần ở lần tiêm trước hoặc dị ứng với thành phần của vắc xin.

Cách phòng tránh bệnh bạch hầu nếu không thể tiêm vắc xin:

- Giữ vệ sinh cá nhân, rửa tay thường xuyên bằng xà phòng; che miệng khi hắt hơi hoặc ho; hạn chế tiếp xúc trực tiếp với người bệnh hoặc nghi ngờ nhiễm bệnh.

- Đảm bảo không gian nhà ở, trường học, các nơi công cộng sạch sẽ, thông thoáng và có đủ ánh sáng.

- Với những người xuất hiện các triệu chứng mắc bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh bạch hầu cần được cách ly và đưa đến cơ sở y tế để được thăm khám, chẩn đoán và điều trị kịp thời.

- Người dân sống trong vùng có nhiều người bị bệnh bạch hầu cần chấp hành nghiêm túc việc khám chữa bệnh cũng như các chỉ định phòng bệnh của cơ sở y tế.

Cùng ngày, Báo điện tử VTC News đã đăng tải bài viết với tiêu đề: "Kết quả xét nghiệm 8 F1 tiếp xúc với nữ sinh mắc bạch hầu ở Bắc Giang". Nội dung cụ thể như sau:

Sáng 9/7, ông Lê Tiến Cương, Phó Giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) tỉnh Bắc Giang cho biết, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương thông tin kết quả xét nghiệm 8/15 mẫu CDC tỉnh gửi giám định bệnh bạch hầu. 8 mẫu đều có kết quả âm tính, 7 mẫu còn lại chưa có kết quả do mới gửi bổ sung.

Trước đó, ngày 7/7, huyện Hiệp Hòa ghi nhận một ca dương tính với bạch hầu. Bệnh nhân là M.T.B (SN 2006), quê ở xã Phà Đánh, huyện Kỳ Sơn (Nghệ An), đang tạm trú tại thôn Trung Tâm, xã Hợp Thịnh (Hiệp Hòa).

Nhân viên Trung tâm y tế huyện Hiệp Hòa lấy mẫu xét nghiệm. (Ảnh: Sỹ Quyết)

B và một người bạn cùng quê là M.T.S (SN 2006) ở chung phòng tại ký túc xá Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện Kỳ Sơn (Nghệ An) với P.T.C (sáng 5/7, C t.ử vo.ng do mắc bệnh bạch hầu).

Ngày 1/7, B và S bắt xe từ huyện Kỳ Sơn về huyện Hiệp Hòa, làm việc tại cơ sở karaoke Quán Lá, thôn Trung Tâm.

Từ ngày 2 đến 5/7, B và S có mặt tại 4 quán karaoke trên địa bàn các xã: Hợp Thịnh, Thường Thắng, Đại Thành (cùng huyện Hiệp Hòa) và quán karaoke 1990 ở thôn An Lạc, xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn (TP Hà Nội).

Sau khi xác định dương tính với bệnh bạch hầu, B được đưa tới Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương điều trị. CDC tỉnh xác định 8 trường hợp tiếp xúc gần với ca bệnh (F1), đồng thời lấy mẫu gửi xét nghiệm.

Mở rộng truy vết, chiều qua, CDC tỉnh xác định thêm 7 trường hợp F1, thực hiện cách ly y tế và lấy mẫu xét nghiệm (chưa có kết quả).

“Dù có kết quả âm tính song các trường hợp F1 vẫn phải cách ly, theo dõi sức khỏe và được điều trị dự phòng bằng kháng sinh trong vòng 7 ngày; theo dõi sức khỏe trong vòng 14 ngày kể từ khi tiếp xúc gần lần cuối với ca bệnh ”, ông Lê Tiến Cương cho biết.

Bạch hầu là loại bệnh tru.yền nhi.ễm nguy hiểm khả năng gây dịch, lây truyền trực tiếp từ người sang người thông qua đường hô hấp. Ngoài ra, vi khuẩn bạch hầu cũng tru.yền nhi.ễm thông qua vật trung gian như đồ chơi, vật dụng có chứa dịch tiết của người bệnh.

Vi khuẩn bạch hầu có thể xâm nhập qua da bị tổn thương, gây bạch hầu da. Trung bình sau khoảng hai tuần nhiễm vi khuẩn, người bệnh có thể bắt đầu lây nhiễm cho người khác thông qua các hình thức nói trên.

Bệnh nhân có dấu hiệu sốt nhẹ, khàn tiếng, ho, các giả mạc tại thanh quản hoặc từ hầu họng lan xuống. Nếu không được điều trị kịp thời, các giả mạc gây t.ắc đường thở, làm bệnh nhân s.uy h.ô h.ấp và t.ử vo.ng nhanh chóng.